Trang thông tin điện tử Đoàn Trung tâm GDNN-GDTX Phú Yên

https://doantn.gdtxphuyen.edu.vn


Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 01/2026

Những ngày đáng nhớ trong tháng 01
- 01/01/1914: Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
- 06/01/1946: Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
- 07/01/1979: Ngày chiến thắng biên giới Tây Nam.
- 09/01/1950: Ngày truyền thống học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam.
- 11/01/2007: Ngày Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
- 23/01/1952: Ngày hy sinh của nữ Anh hùng LLVTND, Liệt sĩ Võ Thị Sáu.
- 27/01/1973: Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.
TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN
Tháng 01/2026
------------
THEO DÒNG LỊCH SỬ
Những ngày đáng nhớ trong tháng 01
  - 01/01/1914: Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
  - 06/01/1946: Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
  - 07/01/1979: Ngày chiến thắng biên giới Tây Nam.
  - 09/01/1950: Ngày truyền thống học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam.
  - 11/01/2007: Ngày Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
  - 23/01/1952: Ngày hy sinh của nữ Anh hùng LLVTND, Liệt sĩ Võ Thị Sáu.
  - 27/01/1973: Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.
01/01/1914: NGÀY SINH ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - nhà lãnh đạo tài ba
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người Cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng, vị tướng tài ba, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 01/01/1914 trong một gia đình nông dân tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế). Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, trải qua lao động vất vả, được chứng kiến bao nỗi đau thương của quê hương, đất nước, người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Vịnh nung nấu hoài bão cứu nước, đó là động cơ thôi thúc đồng chí sớm tham gia hoạt động cách mạng, chấp nhận gian khổ, hy sinh cứu dân, cứu nước.
Năm 1934, chàng trai trẻ Nguyễn Vịnh tham gia cách mạng và năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đến năm 1938, đồng chí được Đảng tin cậy giao trọng trách Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Dưới sự lãnh đạo của Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Vịnh, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Thừa Thiên chống áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến nổ ra mạnh mẽ, làm kẻ thù hoảng sợ.
Từ năm 1938 - 1945, mặc dù bị địch bắt 3 lần và bị giam giữ trong các nhà tù nổi tiếng khắc nghiệt như: nhà lao Thừa Phủ, nhà tù Lao Bảo, nhà đày Buôn Mê Thuột nhưng đồng chí Nguyễn Vịnh thể hiện tinh thần bất khuất, kiên cường, giữ vững khí tiết của người cộng sản. Đến tháng 3/1945, đồng chí được trả tự do và trở lại hoạt động.
Tháng 8/1945, thay mặt tổ chức Đảng ở Trung Kỳ, đồng chí Nguyễn Vịnh ra Việt Bắc dự Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào. Tại đây, đồng chí vinh dự được Bác Hồ đặt bí danh Nguyễn Chí Thanh, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ.
Sau hội nghị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh trở về Xứ uỷ Trung Kỳ lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa, thành lập chính quyền cách mạng, đặc biệt là tổ chức khởi nghĩa và thành lập chính quyền cách mạng ở Huế, nơi đầu não của chính quyền phong kiến Nam Triều. Những cống hiến của đồng chí đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong những năm 1948 - 1950, được giao đảm trách cương vị Bí thư Liên khu ủy 4, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng Liên khu ủy vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối kháng chiến của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân liên khu vượt qua muôn vàn thử thách, cam go, xoay chuyển tình thế, giành thắng lợi to lớn. Với những đóng góp xuất sắc và to lớn đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã được Bác Hồ tặng danh hiệu “Vị tướng du kích”.
Những năm tháng hoạt động trên quê hương, lãnh đạo phong trào cách mạng Trung Kỳ; chịu đựng sự đày ải trong lao tù của đế quốc đã chứng tỏ phẩm chất cách mạng, năng lực lãnh đạo, rèn luyện đồng chí trở thành người tiên phong trên các mặt trận của cách mạng Việt Nam.
Giữa năm 1950, trước yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh, đáp ứng được đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí được phân công vào công tác trong quân đội, đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 2 của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ Chính trị. Trên cương vị mới, đồng chí đã cùng Tổng Quân ủy trực tiếp lãnh đạo quân đội thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến của Đảng; góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tạo ra bước phát triển mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang nhân dân. Đặc biệt, đồng chí đã có công rất lớn trong xây dựng hệ thống cơ quan chính trị, đưa công tác chính trị trở thành “linh hồn”, “mạch sống” của quân đội ta và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong quân đội ngày càng trưởng thành, vững vàng vượt qua mọi thử thách cam go, quyết liệt làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Với những cống hiến to lớn cho cách mạng và quân đội, năm 1959, đồng chí được Nhà nước phong quân hàm Đại tướng, là vị Đại tướng thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tháng 9/1960, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Năm 1961, do yêu cầu của công cuộc hợp tác hóa và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được Trung ương Đảng giao phụ trách Ban Nông nghiệp Trung ương, tiền thân của Ban Kinh tế Trung ương ngày nay. Chỉ ít lâu sau, một phong trào thi đua mới trên mặt trận nông nghiệp nổi lên như sóng cồn. Đó là kết quả của mấy tháng liên tiếp đồng chí Nguyễn Chí Thanh xuống xâm nhập cơ sở ở Hợp tác xã Đại Phong (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình). Bài báo “Hoan nghênh Hợp tác xã Đại Phong” do đồng chí viết đăng trên báo Đảng, trở thành một sự kiện trong đời sống chính trị của nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ.
Là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương nhưng hầu như đồng chí Nguyễn Chí Thanh có mặt cả tháng liền với các hợp tác xã, và từ đó nảy sinh phong trào “Gió đại Phong”. Là Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nhưng đồng chí Nguyễn Chí Thanh thường xuyên có mặt ở các đơn vị, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và từ đó cờ “Ba nhất” phấp phới bay. Có thể nói, đồng chí ở đâu là ở đó có phong trào quần chúng.
Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam tiến hành cuộc Chiến tranh cục bộ đối với nước ta, tháng 9/1964, Bác Hồ chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị để giao cho Quân ủy Trung ương chuẩn bị một kế hoạch chiến lược để đánh bại quân Mỹ và đồng chí Nguyễn Chí Thanh được cử vào Nam làm Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Miền. Theo lời Bác dạy, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhanh chóng đúc rút những bài học kinh nghiệm của những trận đầu thắng Mỹ điện gấp ra miền Bắc. Các phong trào lập công giành danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ; Dũng sĩ diệt ngụy với khẩu hiệu: Tìm Mỹ mà đánh; Tìm ngụy mà diệt; Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh do Đại tướng phát động và tổng kết đã nhanh chóng phát triển thành cao trào, mang về những chiến công vang dội. Cuối năm 1965, Nghị quyết lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III về quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược được nhất trí thông qua có sự đóng góp xứng đáng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
Đầu năm 1967, Nguyễn Chí Thanh được triệu tập ra Hà Nội để chuẩn bị cho bước phát triển mới của cuộc chiến. Tháng 6/1967, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Nguyễn Chí Thanh đã báo cáo một cách toàn diện tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Theo kế hoạch, ngày 06/7/1967, đồng chí sẽ quay trở lại chiến trường miền Nam, nhưng rồi đúng ngày ấy đồng chí đã không qua khỏi vì bạo bệnh.
Cuộc đời cách mạng của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là một chuỗi năm tháng đấu tranh vô cùng gian khổ nhưng đầy nhiệt huyết. Hơn 30 năm hoạt động cách mạng, trải qua nhiều cương vị khác nhau, đồng chí đã tỏ rõ bản lĩnh cách mạng; càng gian khổ, đồng chí Nguyễn Chí Thanh càng trưởng thành, bộc lộ rõ tố chất đặc biệt của một nhà lãnh đạo tài năng. Ở bất cứ cương vị nào, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết, quyết tâm suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã được Đảng, Nhà nước tặng, truy tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác./.
Theo https://dangcongsan.vn
06/01/1946: NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ BẦU QUỐC HỘI ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Những sự kiện trọng đại trong Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên

          Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng Việt Nam nói chung, của công tác tổ chức và cán bộ nói riêng. Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta - một thời kỳ có Quốc hội, có Chính phủ thống nhất, có một bản Hiến pháp tiến bộ và có cả một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, có đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội cũng như đối ngoại.

          Một cuộc tuyển cử thần kỳ

          Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03-9-1945, tức là sau lễ Tuyên ngôn độc lập một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...” (1).
          Tiếp đó, ngày 08-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội để thành lập một cơ quan lập pháp chính thống (Quốc hội) của nước Việt Nam mới. Sắc lệnh nói rõ, “Chiểu theo Nghị quyết của quốc dân Đại hội ngày 16, 17-8-1945 tại khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên;
          Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hòa; xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm...”(2). Chương trình công tác đối nội đầu tiên của Chính phủ liên hiệp lâm thời là, “Làm cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẳn sàng việc khai Quốc hội”(3).
          Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử, các Ban bầu cử đã được thành lập cho tới tận xã, làng, bản, ấp do các Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm. Danh sách cử tri và các ứng cử viên được niêm yết công khai. Nhân dân sôi nổi trao đổi, tranh luận, nhằm lựa chọn đúng đắn những người xứng đáng nhất đại diện cho mình và hạn chế tới mức thấp nhất tình huống kẻ cơ hội tranh giành quyền lực, chức tước làm tổn hại cách mạng.
          Càng gần đến ngày Tổng tuyển cử, khí thế trong cả nước càng sôi nổi. Một số địa phương ở phía Nam do lệnh lùi ngày bầu cử không kịp đến nên vẫn Tổng tuyển cử như kế hoạch đã định là 23-12-1945. Tuy nhiên ở những nơi đó Tổng tuyển cử vẫn diễn ra và thắng lợi tưng bừng làm cho không khí chính trị trong cả nước sôi động hướng tới ngày 06 tháng Giêng năm 1946. Uy tín của Đảng, của Bác ngày càng dâng cao. Ở Hà Nội có 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới làng, xã đã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác đã hết sức trân trọng tấm lòng người dân và đã gửi thư cho đồng bào ngoại ô như sau: “Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định.
          Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.
          Xin cảm tạ các đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới” (4).
          Ngày 03-01-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời để kiểm tra lần cuối các công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử và ngày 05-01-1946, Bác ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong Lời kêu gọi có đoạn, “Ngày mai tất cả các bạn cử tri đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập tự do”. Chiều hôm đó Bác đã tham dự cuộc mít tinh lớn của hơn hai vạn nhân dân Thủ đô tại Đông Dương học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa), nhiệt liệt chào mừng Tổng tuyển cử.
          Ngày 06-01-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành sôi nổi ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Tại Hà Nội, đúng 7 giờ sáng, tiếng chuông, tiếng trống ở các nhà thờ, các chùa chiền đã vang lên khắp các phố phường, kéo dài tới 15 phút, báo hiệu giờ Tổng tuyển cử bắt đầu. Hà Nội tổ chức Tổng tuyển cử khá chu đáo, diễn ra với khí thế ngập tràn phấn khởi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với hàng chục vạn cử tri đã đi làm nghĩa vụ công dân. Người đã bầu cử ở phòng bỏ phiếu tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay thuộc phố Lý Thái Tổ), sau đó Người còn đi thăm nhiều nơi bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, Ô Đông Mác...
          Có thể khẳng định rằng, Tổng tuyển cử là một cuộc thử thách máu lửa trên phạm vi cả nước mà nhân dân ta đã anh dũng vượt qua và đã chiến thắng. Ngay tại Thủ đô, ở khu Ngũ Xã, bọn phản động đã huy động một lực lượng khá đông có trang bị súng liên thanh trực tiếp ngăn cản cử tri đi bỏ phiếu; chúng cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt các hòm phiếu...Nhưng nhân dân không hề nao núng, vẫn làm nghĩa vụ công dân khá đầy đủ; 172.765 trên tổng số 187.880, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội đô và 118 thôn, làng ngoại ô đã đi bỏ phiếu. Trong số 74 ứng cử viên đã có 6 người trúng cử đại biểu Quốc hội. Người trúng cử thấp nhất cũng đạt 52,50% số phiếu hợp lệ. Người trúng cử với số phiếu cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh 98,40%.
          Ở phía Bắc, một vài nơi đã xảy ra đổ máu. Tại Hải Phòng (các khu vực bỏ phiếu như Nhà hát lớn, phố Tràng Kênh...) quân Tưởng xông vào cướp súng của tự vệ đang bảo vệ hòm phiếu, ta bắn cảnh cáo, chúng huy động lực lượng đến cướp hòm phiếu; công an, tự vệ ta phải giằng co để giữ cho được hòm phiếu. Chúng đã bắt của ta 16 công an, 40 tự vệ và hành hung rất dã man nhiều người khác. Chúng ta đã kịp thời huy động hàng nghìn người mít tinh, biểu tình, thị uy, phản đối kịch liệt hành động của chúng, buộc chúng phải thả những người đã bị bắt. Mặc dù vậy , Hải Phòng vẫn có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu(5).
          Ở các tỉnh, thành phía Nam, nhất là Nam Bộ, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra dưới đạn bom rất ác liệt của quân thù, vì ngay từ cuối tháng 10 năm 1945 sau khi được tăng viện, thực dân Pháp đã đánh phá khắp các tỉnh Nam Bộ, chúng đổ bộ lên Nha Trang, đánh phá rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ và các vùng rừng núi Tây Nguyên. Chúng dự tính trong một thời gian ngắn phải thôn tính cho được từ vĩ tuyền 16 trở vào. Cuộc Tổng tuyển cử gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhân dân miền Nam đã thể hiện rõ ý chí độc lập, thống nhất cao, kiên quyết kháng chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược; nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Bất chấp bom đạn của thực dân Pháp, nhân dân vẫn đi bỏ phiếu rất đông. Nhiều nơi cử tri phải đánh đổi cả xương máu để thực hiện cho được quyền tự do dân chủ của mình. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, quân pháp đã chiếm đóng toàn bộ thành phố và các vùng lân cận. Tiếng súng kháng chiến đã vang lên dưới nhiều hình thức, diệt tề trừ gian; tập kích đốt phá kho tàng của địch... Cuộc Tổng tuyển cử ở đây đã diễn ra trong sự lùng ráp, khủng bố gắt gao của quân thù. Ủy ban hành chính thành phố đã phải chuyển ra ngoại ô phía Tây Nam, nhưng vẫn bám sát chỉ đạo nhân dân nội ô, ngoại ô tiến hành Tổng tuyển cử. Không có nơi đặt hòm phiếu cố định, hàng trăm hòm phiếu được lưu chuyển đến từng ngõ, từng nhà cho cử tri bỏ phiếu; 42 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử. Tại Nha Trang, máy bay Pháp ném bom khủng bố làm chết 4 người, 12 người bị thương. Tại Tân An, máy bay địch xả đạn vào nơi cử tri đang bỏ phiếu, làm 14 người chết, nhiều người bị thương, nhiều nơi phải bỏ phiếu ban đêm, vậy mà có đến 90% cử tri đã hoàn tất việc bỏ phiếu. Tại Cần Thơ, quận Trà Ôn, làng Đông Thành, máy bay địch oanh tạc dữ dội nhưng 1.827 trong số 2.188 cử tri vẫn đến được hòm phiếu làm nghĩa vụ công dân; ở làng Thành Mỹ Hưng, bất chấp địch càn quét, đánh phá, 4.209 trên 4.288 cử tri vẫn tới được hòm phiếu làm nghĩa vụ của mình. Ở Mỹ Tho, máy bay địch rà theo kênh, rạch bắn phá suốt ngày, nhưng tại Mỹ Hạnh Đông, cán bộ ta vẫn chèo ghe, xuồng, đánh trống, chở hòm phiếu len lỏi vào các kênh mương, rạch nhỏ nơi đồng bào tản cư để cử tri bỏ phiếu...(6).
          Tại Tây Nguyên, hai ngày trước ngày bầu cử, thực dân Pháp đã huy động máy bay liên tục ném bom lửa xuống các làng Ra Đê và tấn công nhiều làng khác cách Buôn Ma Thuột 19 km...
          Có thể nói, các tỉnh, thành phía Nam, trừ Tây Ninh, nơi chiến sự đã xẩy ra rộng khắp và vô cùng ác liệt, trước ngày bầu cử, một trong hai ứng cử viên đã bị địch giết hại nên không thực hiện được cuộc bầu cử, còn tất cả các tỉnh, thành đều đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử với tuyệt đại bộ phận các cử tri đã đi bỏ phiếu, trong đó nhiều tỉnh cử tri đi bầu đạt tỷ lệ rất cao như Sa Đéc 93,54%, Bạc Liêu 90,77%...
          Nhìn chung cuộc Tổng tuyển cử ở cả 71 tỉnh, thành trong cả nước đã có tới 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến đạt mức 80%, nhiều nơi đạt cao tới 95%. Có một vài nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu là phụ nữ; 34 đại biểu là người dân tộc thiểu số. Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã ra đời.
          Chúng ta không thể không nhắc đến một sự kiện quan trọng trong việc thành lập Quốc hội khóa đầu tiên. Đó là một sách lược tuyệt vời của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chính sách đoàn kết, tập hợp lực lượng, làm dịu tình hình đang hết sức căng thẳng. Sáng ngày 02-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khai mạc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc kỳ họp, Bác đã nêu lên thắng lợi và ý nghĩa lớn lao của cuộc Tổng tuyển cử ngày 06-01-1946, đã “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí”. Sau đó Người đề nghị với Quốc hội mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người nữa; 70 người đó dành cho các vị ở hải ngoại về là Việt Nam quốc dân đảng (Việt quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt cách). Tất cả các đại biểu dự kỳ họp đều tán thành đề nghị của Bác. Như vậy Quốc hội khóa I gồm 333 đại biểu được nhân dân bầu ra và 70 đại biểu mở rộng thêm không qua bầu cử, tổng cộng là 403 đại biểu.
          Phát huy những bài học của Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
          1- Cuộc Tổng tuyển cử lập ra Quốc hội đầu tiên vừa là thành quả to lớn, vừa là yêu cầu cấp bách của việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước cách mạng. Quốc hội ra đời trong khói lửa đấu tranh gian khổ của toàn dân tộc với ý chí bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân là một thành công, một thắng lợi vĩ đại, do đó và vì thế nó có ý nghĩa là một Quốc hội lập quốc (lập nên một Nhà nước Công-Nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á).
          2- Cuộc Tổng tuyển cử diễn ra trong thời khắc nhân dân ta vừa thoát khỏi kiếp nô lệ của cả nghìn năm phong kiến và gần trăm năm thuộc địa, đế quốc Pháp lại đang gây chiến, hòng cướp nước ta, đô hộ dân ta một lần nữa. Trong điều kiện ấy mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hạ quyết tâm Tổng tuyển cử và Tổng tuyển cử đã thắng lợi to lớn, vang dội - một sự kiện hiếm có trong lịch sử cách mạng thế giới. Điều này khẳng định rằng, Đảng với dân là một (ý Đảng, lòng Dân). Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tin tưởng vào ý chí, nguyện vọng độc lập dân tộc và sự đồng lòng nhất trí của toàn dân tộc ta tuyệt đối tin tưởng vào sự chèo lái, lãnh đạo tài trí của Đảng và Bác kính yêu, đặc biệt là trong những lúc tình thế hiểm nghèo, “ngàn cân treo sợi tóc” như bối cảnh của cuộc Tổng tuyển cử. Một sự kiện đã nói ở trên, khi Việt quốc và Việt cách gây căng thẳng và mưu đồ lật đổ Chính phủ cách mạng, Quốc hội đã chấp thuận cho 70 người (50 người của Việt quốc và 20 người của Việt cách) là đại biểu Quốc hội không qua bầu cử, nhưng như đã dự tính trước, chính họ đã tự đào thải họ, chỉ ít lâu sau số đông trong số họ đã chạy theo giặc hoặc đào nhiệm nên đã bị Quốc hội truất quyền đại biểu. Việt quốc chỉ còn duy nhất một người trong số 50 người đủ tư cách đại biểu. Những đại biểu do dân bầu ra, tuyệt đại bộ phận đã xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri, đã rất mẫn cán trong công tác và chiến đấu vô cùng dũng cảm. Một số đại biểu đã hy sinh anh dũng trước họng súng quân Pháp như: Lý Chính Thắng, đại biểu Sài Gòn - Chợ Lớn; Thái Văn Lung, đại biểu Gia Định; Nguyễn Văn Luyện, đại biểu Hà Nội; Nguyễn Văn Tố, đại biểu Nam Định (Trưởng ban đầu tiên của Ban thường trực Quốc hội, nay là Ủy ban thường vụ Quốc hội); Lê Thế Hiếu, đại biểu Quảng Trị; Trần Kim Xuyến, đại biểu Bắc Giang; Nguyễn Văn Triết, đại biểu Thủ Dầu Một; Huỳnh Bá Nhung, đại biểu Rạch Giá; Siểng, dân tộc Khơme, đại biểu Biên Hòa... 
          3- Quốc hội đầu tiên là Quốc hội độc lập dân tộc, Quốc hội thống nhất đất nước và là Quốc hội đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã bao hàm khá đầy đủ các đại biểu cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đại diện cho hầu hết các thế hệ những người Việt Nam yêu nước từ già chí trẻ, các giai tầng xã hội; nam, nữ, công nhân, nông dân, nhân sĩ, trí thức, các doanh nhân, các nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ, các tôn giáo (Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao đài...), các dân tộc (Mường, Tày, Nùng, Thái, Mèo, Ba na, Cơ tu, Ra đê, Ê đê, Gia rai, Khơ me, Hán...). Quốc hội còn bao gồm những người không đảng phái và những người của các đảng phái chính trị, xã hội khác nhau, những người vốn là quan lại của chế độ cũ...Bài học đại đoàn kết có thể coi là bài học cơ bản, xuyên suốt từ khi Đảng ta ra đời, được phát huy cao độ trong Tổng tuyển cử và được nhân rộng cho đến tận bây giờ và chắc chắn còn mãi mai sau.
          4- Cuộc Tổng tuyển cử thắng lợi là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng Việt Nam nói chung, của công tác tổ chức và cán bộ nói riêng. Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta - một thời kỳ có Quốc hội, có Chính phủ thống nhất, có một bản Hiến pháp tiến bộ và có cả một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, có đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội cũng như đối ngoại. Nhà nước được quốc dân giao phó cho những nhiệm vụ cực kỳ nặng nề là điều hành đất nước, kháng chiến, kiến quốc và bang giao trên trường quốc tế.
          5- Cũng như bài học đại đoàn kết, sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là bài học thực tế có tính nguyên tắc và vĩnh cửu. Đảng đã dựa hẳn vào dân, bắt rễ sâu trong lòng dân tộc, do đó đã đáp ứng được khát vọng độc lập dân tộc, tự do, dân chủ của nhân dân. Với lãnh tụ kiệt xuất Hồ Chí Minh và thông qua Mặt trận Việt Minh, một tổ chức rộng lớn do chính Đảng tổ chức và lãnh đạo, do đó Đảng vẫn giữ vững và phất cao ngọn cờ lãnh đạo toàn dân vượt qua mọi khó khăn, không quản ngại hy sinh gian khổ, thực hiện Tổng tuyển cử thành công. Từ đó đến nay, Đảng ta vẫn thường xuyên, liên tục phát huy, nâng cao ý nghĩa và giá trị tốt đẹp của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, vận dụng vào những cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội các khóa sau này. Gần đây nhất là Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Điểm 4 của Chỉ thị nhấn đậm việc chỉ đạo công tác nhân sự - công tác cán bộ: “Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải bảo đảm theo đúng quy trình luật định và hướng dẫn của các cơ quan Trung ương có thẩm quyền. Các cấp ủy đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác bầu cử, bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.
          Sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của Đảng trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là nhằm mục tiêu xây dựng các cơ quan dân cử đủ mạnh, đủ hiệu lực và hoạt động có hiệu quả cao trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
          (1) Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb CTQG, HN 2000, trang 2.
          (2) Việt Nam dân quốc công báo, số ra ngày 29-9-1945.
          (3) Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. CTQG, HN 1994, trang 39.
          (4) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. ST, tập 4, HN 1987, trang 71.
          (5) Hải Phòng, Lịch sử chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb. QĐND, HN. 1986, tr. 89.
          (6) Báo Sự Thật, số ra ngày 10-01-1946.
          (7) Như (3), các trang 124-125.
TS. Bùi Ngọc Thanh, nguyên Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Theo https://dangcongsan.vn

- 07/01/1979: NGÀY CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI TÂY NAM
Chiến thắng chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam - bài học cho công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước
          Sau khi lên nắm quyền ở Campuchia (tháng 4/1975), tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary đã thi hành chế độ độc tài, phát-xít mang tính diệt chủng đối với nhân dân Campuchia và gây chiến tranh xâm lược Việt Nam.
          Từ năm 1975 đến 1978, quân Pol Pot đã mở nhiều cuộc tấn công xâm lấn vào sâu lãnh thổ nước ta, gây ra hàng loạt vụ thảm sát đẫm máu đối với nhân dân dọc biên giới Việt Nam-Campuchia. Hành động của tập đoàn phản động, hiếu chiến Pol Pot-Ieng Sary đã xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, gây tổn hại mối quan hệ giữa hai nước.
          Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng, các quân khu, địa phương, đơn vị tăng cường chuẩn bị lực lượng, thế trận, kiên quyết đập tan các cuộc tấn công xâm lược của địch; đồng thời kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, tìm mọi cách cứu vãn hòa bình, nhiều lần đề nghị đàm phán với chính phủ Campuchia dân chủ.
          Song, tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary đã khước từ mọi thiện chí của ta, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá, xâm lược Việt Nam.
          Ngày 23/12/1978, chúng huy động 10 sư đoàn mở cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, bằng các đòn phản công, tấn công thần tốc, quân và dân ta đã tiêu diệt và đánh bật quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ của Tổ quốc.
          Tiếp đó, theo đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, với tinh thần quốc tế trong sáng, quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng tấn công giải phóng Thủ đô Phnom Penh và toàn bộ đất nước Campuchia (ngày 7/1/1979), cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
          Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã đập tan mưu đồ thâm độc của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi bờ vực của thảm họa diệt chủng; chặn đứng âm mưu chia rẽ truyền thống đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; tạo điều kiện khôi phục lại tình hữu nghị và tình đoàn kết chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia.
          Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã đập tan mưu đồ thâm độc của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi bờ vực của thảm họa diệt chủng; chặn đứng âm mưu chia rẽ truyền thống đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; tạo điều kiện khôi phục lại tình hữu nghị và tình đoàn kết chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia.

          Chiến thắng chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã để lại nhiều bài học quý cho công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước hiện nay.
          Một là, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xâm lược của kẻ thù.
          Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, do chưa nắm chắc, đánh giá đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn xâm lược của tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary nên thời gian đầu, chúng ta còn bị động trong việc xác định đối tượng tác chiến.
          Sau khi xác định đúng nguồn gốc, nguyên nhân, mục tiêu gây chiến tranh của kẻ thù, Đảng ta đã đề ra đường lối, mục tiêu chính trị đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo quân và dân ta mở cuộc phản công, tấn công địch một cách chủ động, kiên quyết, liên tục, giành thắng lợi to lớn.
          Điều đó cho thấy, để đất nước không bị động, bất ngờ, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng “phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(1).

          Đặc biệt, trước tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo như hiện nay, càng phải mài sắc tinh thần cảnh giác cách mạng, sớm phát hiện, đánh giá đúng đối tượng và đối tác trong từng thời điểm; có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động chuẩn bị về tư tưởng, lực lượng, thế trận, kịp thời xử lý thắng lợi các tình huống, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ về chiến lược.
          Nhìn lại cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, bài học về đánh giá tình hình khách quan, toàn diện để sớm có chủ trương chiến lược đúng là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc.
          Hai là, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.
          Mục tiêu xuyên suốt của Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh nhằm giữ vững hòa bình, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh. Đó là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, ngày càng hiện đại, mang tính chất hòa bình, tự vệ, “lấy dân làm gốc”.
          Từ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã khẳng định, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, phải thường xuyên chăm lo xây dựng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, chuẩn bị nguồn lực quốc gia.
          Đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo đảm hợp lý trên từng địa bàn, nhất là địa bàn trọng điểm, hướng chiến lược, biên giới, biển đảo, đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và nhanh chóng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh.
          Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng; tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc; thực hiện tốt phương châm “Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ”.
          Ba là, chăm lo xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao.
          Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, nhờ phát huy sức mạnh tổng hợp, lực lượng vũ trang, nòng cốt là quân đội nhân dân đã đánh bại các cuộc tấn công xâm lược quy mô lớn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền đất nước.
          Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, nhất là về chính trị; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.
          Chăm lo xây dựng quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao; bảo đảm cân đối giữa các quân chủng, binh chủng, giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.
          Điều chỉnh thế bố trí lực lượng phù hợp trên các vùng, miền, nhất là các khu vực trọng điểm về quốc phòng-an ninh, vùng biên giới, biển, đảo. Quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, chỉ lệnh về công tác huấn luyện. Đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa quân đội theo mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã xác định.
          Bốn là, tăng cường hợp tác, đối ngoại quốc phòng với các nước, nhất là các nước láng giềng.
          Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt, dự báo được các xu hướng trong quan hệ quốc tế, khu vực cũng như mục tiêu, lợi ích, ý đồ chiến lược của từng nước, nhất là các nước lớn; không ngừng tăng cường, giữ vững quan hệ giữa ba nước Đông Dương.
          Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng. Trong quan hệ đối ngoại, phải giữ vững nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; tích cực chuyển hóa đối tượng thành đối tác, gắn chặt lợi ích đối tác với lợi ích quốc phòng-an ninh, bảo vệ chủ quyền đất nước.
          Tiếp tục thúc đẩy hợp tác, đưa quan hệ quốc phòng Việt Nam-Campuchia, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ toàn diện giữa hai quốc gia, đóng góp tích cực vào hiện thực hóa phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam và Campuchia vì hòa bình, độc lập dân tộc và sự ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
----------
          (1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr. 552.
Theo https://nhandan.vn
09/01/1950: NGÀY TRUYỀN THỐNG HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM
Lịch sử ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt Nam 9/01
Ngày 9/1/1950, đánh dấu một trang sử hào hùng và là biểu tượng cho phong trào đấu tranh yêu nước của học sinh, sinh viên ở Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V, diễn ra từ ngày 22 - 23/11/1993 ở Hà Nội, ngày 9/1 được chọn làm ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam - ngày truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam.
Giai đoạn 1925 - 1945, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, các tổ chức học sinh, sinh viên yêu nước lần lượt ra đời, như: Tổ chức Học sinh Đoàn, Đội Ngô Quyền, Tổng Hội Sinh viên đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Tự hào đối với các thế hệ học sinh, sinh viên (HS,SV) là việc thành lập chi bộ Đảng đầu tiên, thành lập và hợp nhất các tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn và các chi bộ Đoàn, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản mà hầu hết đảng viên, đoàn viên đều là những đồng chí xuất thân từ học sinh, sinh viên, như: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng…
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước, có cảm tình với cách mạng. Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi được ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt trận Việt Minh và các Đoàn thể cứu quốc hướng dẫn.
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là thành quả to lớn của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, trong đó các tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên có nhiều đóng góp xứng đáng, với biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường đã được khắc ghi vào lịch sử dân tộc.
 Sau cách mạng Tháng Tám, học sinh, sinh viên hăng hái học tập, rèn luyện và tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xung kích thực hiện 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc dốt, diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm do Bác Hồ và Chính phủ đề ra. Từ năm 1947 đến 1949, ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội thành lập Hội Học sinh kháng chiến, Đoàn sinh viên kháng chiến sau đó phát triển ra nhiều trường ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam; số lượng HS,SV viên được kết nạp vào Đoàn và Đảng khá đông. Các hoạt động của HS,SV kháng chiến ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Với khẩu hiệu: “Tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” đã tiếp thêm sinh lực mới cho phong trào HS,SV. Cuộc đấu tranh của học sinh đã lan ra cả Đông Dương.
Ngày 9/11/1949, học sinh Huế bãi khoá. Phan Văn Giáo, Tổng trấn bù nhìn Trung bộ đã thẳng tay khủng bố. HS,SV quyết định bãi khoá để phản đối. Ngày 22/11/1949, trong lúc tại Huế đang tranh đấu, học sinh Sài Gòn bí mật vận động kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa và đề xướng hưởng ứng phản đối việc các nữ sinh Huế bị bắt, đồng thời yêu sách cải tổ chính sách giáo dục. Các cuộc bãi khoá của HS,SV Sài Gòn liên tiếp nổ ra, đưa ra các yêu sách: Chấm dứt khủng bố, đàn áp bắt bớ học sinh; trả tự do cho các học sinh bị bắt sau ngày chống bù nhìn Bảo Đại; bảo đảm an ninh và quyền lợi học tập của học sinh.
Giữa lúc ở Huế, Sài Gòn không khí tranh đấu đang sôi nổi, tại Hà Nội, học sinh cũng đang căm tức vì Pháp và bù nhìn bắt bớ một số anh chị em sau kỳ nghỉ học kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám. Học sinh Chu Văn An quyết định bãi khoá ngày 25/11/1949, trong các lớp trên tường la liệt khẩu hiệu. Toàn trường vang dậy những khẩu hiệu “học sinh bãi khoá”, “trả lại tự do cho bạn chúng ta”, “đả đảo bù nhìn”.
Đến tháng 11/1949, đồng thời với nhiều cuộc bãi công, bãi thị của công nhân và tiểu thương, học sinh nhiều trường công và tư thục, đặc biệt là hai trường Marie Curie và Chasseloup tổ chức bãi khóa. Giám đốc Nha học chính Sài Gòn ra lệnh bắt 12 học sinh vì cho rằng “cuộc bãi khóa mang tính chất chính trị”. Đỉnh điểm là ngày 9/1/1950, hàng nghìn HS,SV cùng thầy cô của các trường Pétrus Ký, Gia Long, Nguyễn Văn Khuê, Huỳnh Khương Ninh, Lê Bá Cang, trường Kỹ thuật Gia Định, trường Luật, khoa học,… tham gia bãi khóa. Đoàn người sau đó kéo lên dinh Thủ Hiến đấu tranh (nay là Bảo tàng TPHCM) đòi trả tự do cho học sinh bị giam cầm và hủy bỏ lệnh đóng cửa trường học. Nhân dân kéo đến tham gia cuộc biểu tình của học sinh ngày càng đông. Đến 3 giờ chiều cùng ngày, để chống lại cuộc đấu tranh của HS,SV, giáo giới, phụ huynh, Pháp huy động 500 cảnh sát và binh lính tấn công đoàn biểu tình. Cuộc đàn áp diễn ra rất đẫm máu. Hơn 30 học sinh bị thương nặng, một số học sinh khác bị bắt. Học sinh Trần Văn Ơn bị trúng đạn và hi sinh dưới họng súng của lính Pháp.
Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây phẫn nộ lớn trong toàn vùng Sài Gòn - Gia Định. Ngày 12/1/1950, khoảng nửa triệu người với nhiều thành phần từ nhân sĩ, tri thức, nhà báo, tu sĩ, công nhân… đã tham gia đám tang học sinh Trần Văn Ơn. Dòng người hô vang khẩu hiệu: “Chết vì Tổ quốc, chết nhưng vẫn sống; Sống kiếp Việt gian, ô nhục muôn đời”. Người dân Sài Gòn - Gia Định đổ ra đứng hai bên đường nghiêm trang cúi đầu tiễn biệt học sinh Trần Văn Ơn đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Có thể nói đây là, cuộc biểu tình thu hút đông đảo quần chúng nhất trong thời kỳ chống Pháp năm 1946 - 1954.
Với sự kiện lịch sử đó, noi gương và ghi nhận tinh thần đấu tranh bất khuất của anh Trần Văn Ơn và HS,SV trong những ngày đầu kháng chiến, Đại hội toàn quốc Liên đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất tháng 2 năm 1950 tại Việt Bắc đã quyết định lấy ngày 9 tháng 1 hàng năm làm Ngày truyền thống học sinh – sinh viên. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V (22 - 23/11/1993) tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đồng thời lấy ngày 9 tháng 1 làm Ngày truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam.
Trải qua hơn 76 năm kể từ ngày thành lập, các thế hệ HS,SV Việt Nam luôn kế tục và phát huy những truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh, được Đảng, Nhà nước dày công bồi dưỡng. Thông qua các hoạt động của mình, HS,SV góp phần giáo dục, bồi dưỡng để hình thành lớp HS,SV mới "vừa hồng, vừa chuyên"; có kiến thức vững vàng, phong phú, có khả năng tiếp cận trí tuệ của thời đại, thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có hoài bão lớn, lối sống đẹp, có sức mạnh truyền thống và bản sắc dân tộc, có trách nhiệm cao với cộng đồng, củng cố và phát triển rộng rãi tổ chức Hội sinh viên Việt Nam, tập hợp, đoàn kết đông đảo sinh viên thi đua học tập, rèn luyện, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Theo https://baocaobang.vn
11/01/2007: NGÀY VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
19 năm Việt Nam gia nhập WTO: Bước tiến trên con đường hội nhập kinh tế toàn cầu

Sau hơn 1 thập kỷ đàm phán kéo dài, từ ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Sự kiện lớn này đã để lại nhiều dấu ấn tích cực trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong 18 năm qua; đồng thời là tiền đề vững chắc cho đất nước tiếp tục vượt qua thách thức, đón nhận cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Để trở thành thành viên chính thức, Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đàm phán song phương và đa phương phức tạp từ năm 1995 đến năm 2006, đồng thời điều chỉnh nhiều quy định pháp lý và cải cách kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu của WTO.
Quyết định gia nhập WTO không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam, mà còn mang lại những cơ hội lớn cho doanh nghiệp trong nước. Việt Nam đã có nền tảng để cải cách sâu rộng hơn về chính sách kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, quá trình này cũng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm, chuẩn bị tốt hơn để đáp ứng những tiêu chuẩn cao của thị trường quốc tế.
Đến nay, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu nổi bật về thương mại, đầu tư, khẳng định cam kết mạnh mẽ của nước ta về hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, từ mức trên 48 tỷ USD vào năm 2007 lên đến 405,53 tỷ USD vào năm 2024 - gấp hơn 8 lần so với thời điểm gia nhập WTO, trong đó xuất siêu là 24,77 tỷ USD. Ngành hàng dệt may đánh dấu sự bứt phá mạnh mẽ với kim ngạch 44 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2023.
Hiện tại, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu hàng dệt may, sau Trung Quốc và vượt qua Bangladesh. Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ các sản phẩm nông sản, thủy sản sang hàng công nghiệp chế biến, công nghệ cao. Các sản phẩm như điện thoại, linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị trở thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng góp tích cực vào thành tựu thương mại chung. Kết quả nói trên đưa nước ta vươn lên vị trí 17 trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.
Việc gia nhập WTO không chỉ thúc đẩy tăng trưởng thương mại mà còn mở rộng hợp tác kinh tế và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cho Việt Nam. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang đàm phán 2 FTA khác. Trong đó, các FTA thế hệ mới, bao gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu - EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… đã giúp Việt Nam tiếp cận sâu rộng vào các thị trường lớn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam hiện trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất trên thế giới. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), đến ngày 31-12-2024, cả nước có 42.002 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 502,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt gần 322,5 tỷ USD. Các tập đoàn lớn trong lĩnh vực công nghệ cao như Samsung, Intel, LG và Foxconn đã chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp phụ trợ và đổi mới công nghệ. Dòng vốn FDI cũng mang lại lợi ích dài hạn, cải thiện năng lực sản xuất và nâng cao trình độ quản trị của doanh nghiệp trong nước, từ đó giúp Việt Nam dần trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh các chỉ số về kinh tế, theo khảo sát và đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển bền vững (SDG) của Việt Nam đã liên tục gia tăng, từ vị trí 88 vào năm 2016 lên vị trí 49 vào năm 2020. Trong bảng xếp hạng SDG toàn cầu năm 2024, Việt Nam xếp vị trí 54/166 quốc gia và vùng lãnh thổ với điểm số tổng quan là 73,3, cao hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực châu Á và ASEAN.
Các thành tựu về thương mại, đầu tư và cải cách pháp lý là những minh chứng rõ ràng cho thấy, Việt Nam đã tận dụng hiệu quả các cơ hội sau 18 năm gia nhập WTO để xây dựng nền tảng phát triển bền vững cho tương lai. Tuy còn nhiều thách thức phía trước, Việt Nam vẫn luôn nhấn mạnh vai trò và vị thế của WTO, đồng thời cam kết phối hợp tối đa để phát triển tổ chức thương mại toàn cầu này.
WTO (trụ sở ở Geneva, Thụy Sĩ) là tổ chức quốc tế duy nhất điều chỉnh các quy tắc thương mại toàn cầu. Chính thức thành lập vào ngày 1-1-1995, WTO có nhiệm vụ chính là thúc đẩy thương mại tự do và công bằng giữa các quốc gia, giảm thiểu rào cản thương mại, và hỗ trợ các thành viên phát triển kinh tế.
Hiện tại, WTO có 165 quốc gia, vùng lãnh thổ thành viên, chiếm hơn 90% thương mại toàn cầu. Các hiệp định của WTO bao gồm sáu lĩnh vực chính: Thương mại hàng hóa, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, đánh giá chính sách thương mại và các thỏa thuận thành lập WTO.
Theo https://hanoimoi.vn
23/01/1952: NGÀY HY SINH CỦA NỮ ANH HÙNG LLVTND, LIỆT SĨ VÕ THỊ SÁU
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Võ Thị Sáu (1933-1952):
Người con gái đất đỏ anh hùng

          Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, nay là xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Quê hương Chị có dãy núi Châu Viên-Châu Long hùng vĩ, nổi danh là Chiến khu Minh Đạm trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
          Ông Võ Văn Thiết, đảng viên kỳ cựu, vốn quen biết gia đình đã kết nạp Võ Thị Sáu vào Đội Công an xung phong khi chị vừa tròn 14 tuổi. Cuối năm, chị được cử đi học Trường Thiếu sinh quân của tỉnh.
          Sau khóa học, Võ Thị Sáu được Đội trưởng Đội Công an xung phong Mai Văn Láng giao nhiệm vụ luồn sâu vào vùng tạm chiếm, diệt ác trừ gian, phá rã bộ máy tề ngụy. Năm 1948, Võ Thị Sáu đề xuất phương án diệt cai tổng Tòng ngay tại dinh của hắn. Một buổi sáng, Võ Thị Sáu theo đoàn người vào làm căn cước, trái lựu đạn gọn lỏn trong cơi đựng trầu. Giữa buổi, người thưa dần, chị Sáu rút chốt lựu đạn, liệng thẳng vào mặt Tổng Tòng. Tiếng nổ chát chúa kèm theo ánh chớp xanh lè. Tổng Tòng không chết nhưng biết sợ hơn trước.
          Cũng trong thời gian này, hai tên Cả Suốt và Cả Đay ngày càng tác oai tác quái; chúng thường dẫn lính đi xét chợ, cướp đồ, lùng bắt Việt Minh. Phương án diệt Cả Suốt và Cả Đay của Võ Thị Sáu được cấp trên thông qua. Cô bé nhỏ tuổi nhất đội bao giờ cũng đưa ra ý kiến táo bạo: Đánh địch ngay tại hang ổ của chúng, ngay tại nơi chúng gây tội ác. Đó là lối đánh riêng của Võ Thị Sáu và dường như đã trở thành định mệnh cho người thiếu nữ của quê hương Đất Đỏ.
          Thị trấn Đất Đỏ nhộn nhịp từ trước phiên chợ Tết Canh Dần (năm 1950). Người dân vùng biển từ Long Hải, Phước Hải, Phước Tỉnh đưa lên đủ loại cá tươi, cá khô, tôm, mực... Dân các xã miền núi chở thịt rừng, măng khô, lá giong, nấm mèo; từ miệt vườn đổ về đủ các loại heo, gà, hoa trái, bún bánh. Cả Suốt và Cả Đay cùng tốp lính xuất hiện. Bọn chúng đi đến đâu là náo động đến đó, công khai cướp chợ giữa ban ngày. Võ Thị Sáu mặc bộ đồ bà ba đen, chân đất như một cô thôn nữ trong vùng, lẫn trong đoàn người tay xách nách mang vào chợ. Chị bám theo bọn lính, giữ một khoảng cách an toàn. Lão lính Kề cũng theo sát sau lưng chị. Võ Thị Sáu đang chờ bọn lính ra khỏi chợ. Chị không biết hiểm nguy đang chờ. Bọn lính đã no nê, mỗi tên một giỏ đồ lễ mễ xách về. Chị Sáu nép vào một góc khuất. Lão lính Kề thận trọng bước lại gần, thu mình trong tư thế “cọp vồ mồi”. Chỉ còn ba bước nữa thôi, lão nín thở, chồm tới... Chợt lão xây xẩm mặt mày, té ngửa, mắt trợn ngược, miệng ú ớ, không nói được lời nào. Trái lựu đạn trong tay Võ Thị Sáu đang xì khói.
          Chị vung tay vụt trái lựu đạn vào tốp lính. Chớp lửa xanh lè và tiếng nổ kinh hoàng. Cả Suốt và Cả Đay giãy đành đạch. Chị Sáu vụt chạy về phía ấp Hiệp Hòa. Lão Kề lồm cồm nhổm dậy gào lên: “Bắt lấy... Bắt lấy con nhỏ”. Chị Sáu rẽ vào một ngõ hẻm, rút chốt trái lựu đạn thứ hai liệng lại. Bọn lính hoảng hồn la lên, tên té xuống ao, tên xô bờ dậu, nhưng nghiệt ngã thay, trái lựu đạn lép, không nổ. Bọn lính bủa vây các ngả. Lão Kề nhào tới chụp được Chị.
          Những ngày cuối cùng trong khám Chí Hòa, Võ Thị Sáu vẫn học văn hóa. Chị được nhận phần thưởng của Liên Đoàn tù nhân: một cây bút chì, một cuốn tập và một đôi bông tai bằng mảnh gáo dừa mài công phu, đen bóng như sừng, xen lẫn hoa văn tự nhiên trông rất đẹp. Đôi bông tai là đồ trang sức đẹp nhất của Chị. Suốt một thời ấu thơ, Chị chỉ biết đến những chuỗi cườm xâu bằng những cánh hoa Lêkima rụng. Đôi bông tai còn là kỷ vật của đời tù. Chỉ có những người tù mới làm ra những kỷ vật độc đáo như vậy. Họ gửi gắm vào kỷ vật nhỏ bé ấy một niềm tin, một lời hẹn ước, truyền cho nhau hơi ấm cuộc đời, sát cánh bên nhau, vững tin, chiến đấu và chiến thắng.
          Bản án tử hình người con gái chưa đủ tuổi thành niên làm xôn xao dư luận lúc đó. Đó là sự chà đạp lên cả luật pháp nước Pháp, một nước từng có nền dân chủ, văn minh, tiến bộ. Phong trào chống chiến tranh ở Pháp nổi lên mạnh mẽ. Thực dân Pháp không dám xử Võ Thị Sáu tại Sài Gòn, mà lén lút đưa Chị ra Côn Đảo tử hình. Bốn giờ sáng ngày 21-1-1952, thực dân Pháp còng tay Võ Thị Sáu đưa xuống chiếc hải vận ở bến Bạch Đằng. Tàu chạy suốt đêm, rạng sáng ngày 22-1-1952 thì đến Côn Đảo. Thiếu tá Jarty, Quản đốc quần đảo và nhà tù Côn Đảo  đã chờ sẵn ở Cầu Tàu cùng một tiểu đội lính Âu-Phi và một tốp giám thị Pháp . Chúa đảo Jarty ra lệnh giải Võ Thị Sáu về xà lim Sở Cò.
          Bốn giờ sáng ngày 23-1-1952, Chủ Sở Cò áp giải Võ Thị Sáu về văn phòng giám thị trưởng. Chúa đảo, chánh án, đội lính hành quyết và cố đạo đã chờ sẵn. Tên chánh án làm thủ tục thi hành án trước sự chứng kiến của chúa đảo Jarty. Võ Thị Sáu đã kiên quyết từ chối lời đề nghị rửa tội của viên cố đạo: “Tôi không có tội! Nếu muốn rửa tội, xin hãy rửa tội cho những kẻ sắp giết tôi đây”. Khi được hỏi rằng trước khi chết, còn điều gì ân hận không? Chị đã bình tĩnh và hiên ngang trả lời: “Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và tay sai bán nước”. Cố đạo làm giấu trong khi bọn lính còng tay giải Võ Thị Sáu ra pháp trường. Con đường ra Nghĩa địa Hàng Dương cây cỏ xác xơ, không một nhành hoa, mầm lá. Chỉ có tiếng hát trầm hùng của hai ngàn tù nhân đưa tiễn Chị. Võ Thị Sáu yêu cầu không bịt mắt. Chị cất lời hát bài Tiến quân ca trong khi bọn lính giương súng đợi lệnh. Chị không nghe tiếng bọn lính lên đạn mà ngước mắt nhìn đăm đắm như muốn thu cả đất trời vào đôi mắt mình, để rồi giây phút nữa thôi, Chị cũng tan biến vào trời đất. Võ Thị Sáu ngừng hát, nhìn thẳng vào bảy tên đao phủ, chị hô lớn: “Đả đảo thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ Tịch muôn năm!”
          Bảy tên đao phủ giật nảy người. Bảy tiếng súng khô khốc chuệch choạc nổ. Những người vợ giám thị mục kích cuộc hành hình đã thét lên, phản đối bầy đao phủ man rợ. Ở các trại giam, gần 2000 tù binh, tù chính trị cũng đồng loạt hô vang các khẩu hiệu đả đảo thực dân Pháp, phản đối cuộc hành hình.
          Cuộc đời và huyền thoại về Chị còn được lưu truyền mãi mãi. Tên tuổi Võ Thị Sáu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trân trọng như những bậc anh hùng liệt sỹ tiền bối của dân tộc ta. Tên chị đã đi vào thơ ca, trở thành tên đường, tên trường, tên đoàn, tên đội trên khắp đất nước ta. Đã có nhiều bài hát sống mãi với thế hệ trẻ Việt Nam như bài Biết ơn chị Võ Thị Sáu của nhạc sỹ Nguyễn Đức Toàn.
          Ngày 2-8-1993, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh đã ký Quyết định số 149 KT/CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sỹ Võ Thị Sáu.

Ngọc Trâm

(Nguồn: Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Xí nghiệp In 27/7, năm 2004; Nguyễn Đình Thống, Võ Thị Sáu con người và huyền thoại, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017; Nguyễn Đình Thống-Nguyễn Linh-Hồ Sĩ Hành, Lịch sử nhà tù Côn Đảo (1862-1975), NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015).
27/01/1973: NGÀY KÝ HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM
Ngày này năm xưa: 27/1
          Ngày 27/1/1973: Chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định được ký kết sau gần 5 năm đàm phán (1968 - 1973)...
          - Ngày 27/1/1973: Chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định được ký kết sau gần 5 năm đàm phán (1968 - 1973). Tham gia lễ ký có đại diện của Việt Nam Dân chủ cộng hòa là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, đại diện của Mỹ là Ngoại trưởng William P.Rogers, đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình và đại diện cho chính quyền Sài Gòn, Tổng trưởng Ngoại giao Nguyễn Văn Lắm. Hiệp định Paris được ký kết đã tạo ra cục diện mới làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng để quân và dân Việt Nam có điều kiện giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước. Đây là dấu son chói lọi trong lịch sử ngành ngoại giao Việt Nam, mở ra cánh cửa hòa bình cho đất nước sau nhiều năm chiến tranh ác liệt.
          - Ngày 27/1/1995: Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký Nghị định 16/CP thành lập Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh với sứ mệnh làm đầu tàu và nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học nước nhà, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước.
          - Ngày 27/1/2018: Đội tuyển U23 Việt Nam gặp đội tuyển U23 Uzbekistan trong trận chung kết U23 châu Á tại Thường Châu, Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên đội tuyển U23 của Việt Nam lọt vào đến chung kết của một giải đấu châu lục. Tuy nhiên, U23 Việt Nam đã để thua U23 Uzbekistan 1-2 sau 120 phút đầy quả cảm.
          Sự kiện quốc tế:
          - Ngày 27/1/1756: Ngày sinh nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Wolfgang Amadeus Mozart. Ông là nhà soạn nhạc nổi tiếng, quan trọng và có nhiều ảnh hưởng nhất trong thể loại nhạc cổ điển châu Âu. Các tác phẩm của ông được xem là đỉnh cao trong các thể loại nhạc như piano, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng, nhạc tôn giáo và opera.
          - Ngày 27/1/1834, ngày sinh Đmitri Ivanovich Menđêlêev - nhà hoá học lớn người Nga. Nǎm 1869, ông phát minh ra Định luật tuần hoàn Menđêlêev. Trên cơ sở đó ông đã xây dựng hệ thống bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học gọi là bảng tuần hoàn Menđêlêev.
          - Ngày 27/1/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt tại Hồng trường Moscow dự Lễ tang V.I.Lênin. Cùng ngày hôm đó trên tờ báo Sự Thật, cơ quan của Đảng Cộng sản Liên Xô, đăng bài viết “Lênin và các dân tộc thuộc địa” của Nguyễn Ái Quốc.
          - Ngày 27/1 hàng năm được chọn là Ngày quốc tế Tưởng niệm Nạn nhân Do Thái trong Thế chiến II. Trong Thế chiến II, hơn 6 triệu người dân tộc Do Thái đã bị phát xít Đức sát hại bởi tư tưởng dân tộc thượng đẳng, cực đoan. Những người Do Thái bị dồn vào các trại tập trung, bị tàn sát và tra tấn bằng nhiều hình thức man rợ.
          - Ngày 27/1/1967, hơn 60 nước đã ký Hiệp ước cấm sản xuất và lưu hành vũ khí hạt nhân.
Theo https://dangcongsan.vn
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
 “Bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện bản lĩnh kiên định và tầm nhìn chiến lược của dân tộc Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên “trên hết, trước hết”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn vận dụng linh hoạt sách lược, biến thách thức thành cơ hội, giữ vững thế chủ động chiến lược trong mọi hoàn cảnh. “Bất biến” là sự khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ngày 31-5-1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến””(1). Là người am hiểu sâu sắc triết học phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm trong lời căn dặn đó một số định hướng mang tầm chiến lược. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhà Nho thâm hiểu kinh điển, lời căn dặn được hiểu là trong hoàn cảnh khó khăn, phải kiên định nguyên tắc căn bản, lấy cái không đổi ứng phó với muôn sự thay đổi.
 “Dĩ bất biến ứng vạn biến” thường được hiểu là lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự biến động. Ở tầm chỉ đạo hành động, phương châm này hàm ý rằng, để ứng xử linh hoạt, trước hết phải xác định rõ đâu là “cái bất biến” và đâu là “cái vạn biến”. Xác định đúng “cái bất biến” giúp chủ động điều chỉnh “cái vạn biến”, mà vẫn giữ vững mục tiêu chiến lược.
Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp giải thích phương châm này, song các nhà nghiên cứu thống nhất rằng “cái bất biến” chính là mục tiêu, nguyên tắc lớn của cách mạng Việt Nam(2). Giữ vững nguyên tắc chính là điều kiện để thực hiện mục tiêu. Trong tư duy của Người, mục tiêu luôn là điểm khởi đầu, đồng thời là thước đo của mọi hành động cách mạng.

Từ thực tiễn lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1946 và tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cái bất biến” là mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ cụ thể, “bất biến” luôn được cụ thể hóa thành mục tiêu phù hợp với bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đó là biểu hiện sinh động của trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và linh hoạt - giữa “bất biến” và “vạn biến” - trong tư duy chiến lược và hành động thực tiễn của Người.
“Bất biến” - mục tiêu đặt ra
Quan niệm về mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét nhất trong việc lựa chọn tiêu ngữ quốc hiệu của nước Việt Nam. Tại Sắc lệnh số 50 ngày 9-10-1945, lần đầu tiên cụm từ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” xuất hiện dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(3). Ba thành tố này được đặt ngang hàng, song mang giá trị ý nghĩa ở những cấp độ khác nhau, phản ánh tư tưởng nhất quán của Người về mục tiêu tối thượng: độc lập dân tộc gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(4). Như vậy, “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu cuối cùng, còn “độc lập” là điều kiện trung tâm để đạt được mục tiêu đó. Tư tưởng này tiếp tục được Người khẳng định trong Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai vào ngày 18-10-1945, khi kêu gọi: “Từ đây đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, tranh đấu đến kỳ cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc” và bày tỏ niềm tin: “Tất cả nhân dân Lào Cai,... cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà và xây dựng nền hạnh phúc tự do cho dân chúng”(5).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định quan niệm sâu sắc về “tự do” và “hạnh phúc”. Tháng 1-1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(6).
Trong khi khẳng định “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu tối thượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đề cao vai trò quyết định của độc lập dân tộc. Độc lập vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đạt tới tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chưa được quốc tế công nhận, nền độc lập còn “ngàn cân treo sợi tóc”, Người xác định rõ độc lập chính là “cái bất biến” cần được giữ vững trước mọi biến động.
Ngày 6-10-1945, khi đề cập đến chính sách ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với Pháp - rất đơn giản, Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, các vấn đề khác cũng có thể giải quyết dễ dàng”. Ngày 28-11-1945, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Ngoại giao đối với Pháp: a) Nhất quyết đòi độc lập. b) Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa. c) Ngoại giao với Trung Hoa: Cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam(7). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi độc lập là “cái bất biến”, đồng thời xác định rõ “cái vạn biến” có thể linh hoạt điều chỉnh là kinh tế, văn hóa và các lĩnh vực khác. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt sách lược, thể hiện tầm vóc tư duy chiến lược của Người trong nghệ thuật lãnh đạo và đối ngoại cách mạng.
“Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
Trong khi kiên định mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu cụ thể (mục tiêu trước mắt), phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng. Trong những năm 1945 - 1946, mục tiêu trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã gặp Lư Hán (1895 - 1974), tướng lĩnh cao cấp của Quốc dân đảng Trung Quốc, Tư lệnh Tập đoàn quân số 1, kiêm Tổng chỉ huy lực lượng Trung Hoa Quốc dân đảng tại Bắc Đông Dương, được Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch (1887 - 1975) làm Chủ tịch ủy nhiệm sang Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản theo thỏa thuận của Hội nghị Potsdam(8).
Theo quyết định của Hội nghị Postdam, quân đội Trung Hoa Dân Quốc được giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, còn quân đội Anh phụ trách khu vực phía Nam vĩ tuyến 16. Mặc dù mang danh nghĩa “giải giáp quân đội Nhật”, song lực lượng do tướng Lư Hán chỉ huy - khoảng 20 vạn quân - đã có nhiều hoạt động vượt ra ngoài phạm vi được ủy nhiệm, tác động đáng kể đến tình hình chính trị ở miền Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh phức tạp đó, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối diện với không ít sức ép từ bên ngoài, đòi hỏi nghệ thuật xử lý tình huống hết sức linh hoạt và tỉnh táo.
Tại một cuộc tiếp xúc quan trọng, khi phía đối phương đưa ra nhiều yêu cầu gây khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ thái độ bình tĩnh, phân tích rõ tương quan lực lượng và xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng để chủ động ứng phó với những biến động tiếp theo.
Việc xác định rõ mục tiêu cụ thể và kiên định thực hiện mục tiêu cho thấy trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các yếu tố khác - kể cả mục tiêu lâu dài - có thể được điều chỉnh linh hoạt khi cần thiết để bảo vệ “cái bất biến”. Quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật đó. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam là độc lập dân tộc, song với tương quan lực lượng lúc bấy giờ, chưa thể buộc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam dù chỉ trên danh nghĩa.
Trước đó, ngày 28-2-1946, Hiệp định Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Pháp được quyền thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc Đông Dương. Để việc chuyển quân diễn ra thuận lợi, phía Pháp mong muốn đạt được thỏa thuận với Việt Nam nhằm tránh xung đột không cần thiết. Trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột đa chiều đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một giải pháp mềm dẻo, vừa giữ vững nguyên tắc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tiếp tục phát triển.
Đầu tháng 3-1946 (từ ngày 1 đến 3-3-1946), đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Cộng hòa Pháp tiến hành các cuộc đàm phán bí mật. Phía Việt Nam kiên trì lập trường yêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam, song hai bên còn những bất đồng. Trước đó, ngày 25-2-1946, trong cuộc gặp với Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Pháp - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ quan điểm của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác”(9).
Tình hình lúc bấy giờ diễn biến hết sức căng thẳng. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp xuất hiện tại vịnh Bắc Bộ; phía Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố nếu quân Pháp đổ bộ khi chưa có Hiệp định Việt - Pháp, sẽ nổ súng. Ở trong nước, nhân dân và lực lượng vũ trang sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, trong khi một số tổ chức chính trị tìm cách lợi dụng thời cơ để gây rối tình hình.
Tối ngày 5-3-1946, đại diện quân đội Tưởng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và bày tỏ sẽ ủng hộ nếu Việt Nam đạt được thỏa thuận với Pháp. Ngay sau đó, đại diện Pháp cũng đến gặp, mong muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất ngay trong đêm cùng ngày. Cuộc trao đổi giữa hai bên kéo dài đến rạng sáng ngày 6-3-1946. Phía Việt Nam kiên trì đề nghị Pháp công nhận nền độc lập và thừa nhận kết quả trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ, song phía Pháp vẫn giữ quan điểm khác biệt đối với vấn đề độc lập.
Sáng ngày 6-3-1946, khi tàu chiến Pháp tiến vào Hải Phòng, xung đột vũ trang đã xảy ra giữa quân đội Pháp và một bộ phận quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Tại Thủ đô Hà Nội, tình hình trở nên hết sức căng thẳng; phía Trung Hoa Dân Quốc liên tục thúc giục Việt Nam sớm đạt thỏa thuận với Pháp. Nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ Pháp và Trung Hoa Dân Quốc thỏa hiệp, đẩy Việt Nam vào thế bất lợi, là điều khó tránh khỏi. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đề xuất sáng kiến ký “Hiệp định Sơ bộ” với điều kiện Pháp phải công nhận Việt Nam là “quốc gia tự do”. Phía Pháp chấp thuận. Chiều ngày 6-3-1946, vào lúc 16 giờ 30 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp - ký kết Hiệp định Việt - Pháp. Hiệp định khẳng định “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình”(10).
Ngày 7-3-1946, tại cuộc mít-tinh lớn của nhân dân thủ đô Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu làm rõ ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ: “Nước Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do; tự do không phải là tự trị, nhiều hơn tự trị nhưng vẫn chưa là độc lập… Sau khi giành được tự do, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, độc lập hoàn toàn”(11). Lời khẳng định đó phản ánh rõ quan điểm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong bối cảnh phức tạp, cần biết tạm thời chấp nhận bước đi thích hợp để giữ vững “cái bất biến” - mục tiêu độc lập dân tộc - đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh lâu dài.

Việc xác định mục tiêu cụ thể tiếp tục được thể hiện rõ trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước vẫn là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (mở rộng), được thông qua và phổ biến sau đợt họp lần thứ hai vào tháng 7-1959, đã xác định rõ: “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (12). Trước đó, ngày 1-8-1956, trả lời phỏng vấn Báo Tuần lễ Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi sẽ kiên quyết phấn đấu để củng cố hòa bình, giành thống nhất, độc lập và dân chủ hoàn toàn cho đất nước”(13). Những phát biểu và chủ trương này cho thấy sự nhất quán trong tư duy của Người: kiên định mục tiêu “bất biến” là độc lập, thống nhất Tổ quốc, đồng thời vận dụng linh hoạt sách lược “vạn biến” để đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể.
Độc lập dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, cần được kiên định trong mọi giai đoạn. Trong đàm phán Paris, nguyên tắc này càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi Mỹ không tham gia ký kết Hiệp định Genève năm 1954 và không thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Mặc dù gặp thất bại trên chiến trường và rơi vào thế bất lợi trong đàm phán, song phía Mỹ vẫn cố duy trì lập trường này. Thậm chí, đến tháng 11-1972, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger còn đề xuất không ghi cụm từ “Mỹ công nhận”, mà chỉ “các nước công nhận”, đồng thời tìm cách chuyển nội dung “công nhận các quyền cơ bản của Việt Nam” từ Chương I, Điều 1 xuống Chương IV nhằm làm giảm giá trị pháp lý của điều khoản đó(14).
Thống nhất đất nước là mục tiêu cuối cùng, song để đạt được mục tiêu đó, trong từng giai đoạn cần xác định rõ nhiệm vụ cụ thể. Trong đàm phán Paris, mục tiêu trước mắt được xác định là “quân đội Mỹ rút, quân ta ở lại”. Ngày 20-7-1968, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 14 năm ký kết Hiệp định Genève, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: Ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hòa bình sẽ lập lại ngay… Cách duy nhất để lập lại hòa bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước!”(15). Lập trường đó thể hiện hai nội dung nhất quán: 1- Quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh phải rút hoàn toàn khỏi Việt Nam; 2- Các vấn đề nội bộ của Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự quyết định, trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng chính trị - quân sự ở miền Nam. Đây chính là sự vận dụng linh hoạt tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”: kiên định mục tiêu thống nhất và độc lập, đồng thời xác định bước đi chiến lược phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó.
Ngày 1-1-1969, trong Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ: “Năm qua thắng lợi vẻ vang,/Năm nay tiền tuyền chắc càng thắng to./Vì độc lập, vì tự do,/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!(16). Bài thơ đã khẳng định rõ mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do và thống nhất đất nước (“Bắc - Nam sum họp”), đồng thời chỉ ra mục tiêu cụ thể, trước mắt là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đây là sự kết hợp nhất quán giữa cái “bất biến” - mục tiêu chiến lược - với cái “vạn biến” - sách lược hành động phù hợp từng giai đoạn cách mạng.
Đánh giá ý nghĩa của Hiệp định Paris, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát… mà mấu chốt là quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại”(17).  Như vậy, tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” tiếp tục được vận dụng sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của Hội nghị Paris (từ tháng 5 đến tháng 10-1968), Việt Nam chưa chấp nhận đàm phán với chính quyền Sài Gòn. Theo hồi ức của ông Nguyễn Đình Phương - phiên dịch tại hội nghị, trong một cuộc gặp bí mật giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Xuân Thủy và phái đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu, phía Mỹ yêu cầu có đại diện của chính quyền Sài Gòn tham dự. Ông Xuân Thủy thẳng thắn khẳng định: “Ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu - Kỳ”(18). Đến tháng 10-1968, Mỹ tiếp tục đề nghị Việt Nam chấp thuận sự tham gia của chính quyền Sài Gòn như một điều kiện để chấm dứt ném bom miền Bắc. Việt Nam đồng ý, với điều kiện phía Mỹ phải thừa nhận sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là một bước đi thể hiện rõ nghệ thuật “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định lập trường nguyên tắc, vừa linh hoạt trong sách lược. Cục diện đàm phán bốn bên tại Thủ đô Paris được mở ra, với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng - lực lượng chính trị, quân sự có uy tín và vị thế quốc tế ngày càng cao - tạo thuận lợi mới cho Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao, hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước.
Xác định “cái bất biến” trong bối cảnh hiện nay
Cách thức Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ nhất, mục tiêu cuối cùng là “kim chỉ nam” cho hành động. Kiên định mục tiêu lâu dài giúp không chệch hướng, không sa vào chủ quan, giáo điều. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, cần có những điều kiện cụ thể; nếu vận dụng cứng nhắc trong bối cảnh chưa chín muồi, sẽ khó xử lý hiệu quả các vấn đề phức tạp, trước mắt.
Thứ hai, mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn là yếu tố quan trọng dẫn tới mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu này phải phù hợp thực tiễn, khả thi và có tính định hướng, là “nấc thang” tiến dần tới thắng lợi toàn diện. Càng xác định rõ mục tiêu trước mắt, càng tạo được sự linh hoạt trong điều hành chiến lược và trong hành động.
Thứ ba, mục tiêu cuối cùng và mục tiêu cụ thể có vai trò khác nhau nhưng thống nhất trong tổng thể. Mục tiêu cuối cùng giữ vai trò định hướng chiến lược, còn mục tiêu cụ thể là căn cứ xử lý những vấn đề cấp bách, thiết thực.
Thứ tư, để xác định đúng “cái bất biến” trong từng giai đoạn, cần “biết người, biết mình, biết thời thế”. “Biết người” là hiểu rõ đối tác và bối cảnh; “biết mình” là nắm chắc năng lực, mục tiêu, phương cách hành động; “biết thời thế” là nhận diện đúng xu hướng vận động của thế giới và khu vực(19). Khi hội đủ ba yếu tố này, việc xác định “cái bất biến” mới thực sự chính xác và khả thi.
Ngày nay, sau hơn 80 năm giành được độc lập, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam. “Cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu chiến lược - không thay đổi; song “cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu cụ thể - cần được xác định phù hợp bối cảnh mới. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định: Đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao(20). Đây là những mục tiêu chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi chính sách, trong đó có chính sách đối ngoại, đều phải phục vụ hiệu quả cho việc hiện thực hóa những mục tiêu này. Nói cách khác, mục tiêu phát triển quốc gia - “cái bất biến” - chi phối toàn bộ hoạt động đối ngoại, từ lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên đến cách xử lý các vấn đề phát sinh - “cái vạn biến”.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cần tiếp tục xác định rõ nguyên tắc xử lý “cái bất biến” trong các tình huống cụ thể của quan hệ quốc tế. Từ nay đến năm 2030 và năm 2045, các mối quan hệ đa phương, song phương và khu vực đều có thể phát sinh những vấn đề phức tạp; nếu có nguyên tắc chung, sự đồng thuận và ứng phó sẽ chủ động, hiệu quả hơn.
Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn.
Một là, đánh giá kỹ tác động của từng vụ việc đối với mục tiêu cuối cùng và lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc. Phải tránh hai khuynh hướng: nghiêm trọng hóa dẫn đến cứng nhắc, làm vấn đề thêm phức tạp; hoặc đơn giản hóa, dẫn đến chủ quan, bỏ lỡ thời cơ hoặc gây hệ lụy lâu dài.
Hai là, trên cơ sở đánh giá mức độ tác động, xác định mục tiêu cấp bách, trước mắt theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu cuối cùng, tối ưu và khả thi. Từ đó, xác định các biện pháp xử lý phù hợp, cả về phương thức và mức độ.
Ba là, khi xác định được mục tiêu cụ thể (cái bất biến) và biện pháp xử lý (cái vạn biến), cần kiên định thực hiện, đồng thời chủ động hóa giải các hệ quả có thể phát sinh.
Bài học từ lịch sử còn nguyên giá trị đến hôm nay. Ngày 7-3-1946, một ngày sau khi ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trước đồng bào Thủ đô: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”(21). Lời khẳng định đó thể hiện bản lĩnh kiên định, niềm tin vững chắc và tinh thần bất khuất đối với “cái bất biến” - độc lập, chủ quyền và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.
Tóm lại, phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một nội dung cốt lõi, thể hiện chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại. Vấn đề then chốt và cũng là khó nhất trong việc vận dụng đúng tinh thần ấy chính là xác định “cái bất biến” trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể. Kiên định “cái bất biến” là giữ vững mục tiêu chiến lược; linh hoạt trong “vạn biến” là nghệ thuật ứng xử sáng tạo để đạt tới mục tiêu đó. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai yếu tố này không đối lập, mà bổ sung cho nhau, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và bản sắc ngoại giao Việt Nam. Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi nhanh của thế giới hiện nay, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là cẩm nang quý báu cho Việt Nam trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời, là kim chỉ nam trong xử lý linh hoạt, hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ quốc tế hiện đại./.
----------------------------
(1), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (21) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 3, tr. 197, 44, 46, 119, 76, 139, 147, 149
(2) Xem: Nguyễn Văn Nguyên: ““Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam (giai đoạn 1945 - 1946)”, Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, ngày 10-7-2025, https://lyluanchinhtri.vn/phuong-cham-di-bat-bien-ung-van-bien-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-va-gia-tri-chi-dao-thuc-tien-doi-voi-cach-mang-viet-nam-giai-doan-1945-1969-6997.html
(3) Xem: Hà Minh Hồng: “Thêm nhận thức về 6 chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” trong Quốc hiệu Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 1-9-2020, https://baochinhphu.vn/them-nhan-thuc-ve-6-chu-doc-lap-tu-do-hanh-phuc-trong-quoc-hieu-viet-nam-102278396.htm
(8) Hội nghị diễn ra tại thành phố Potsdam (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh
(11) Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao: Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 28
(12) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 20, tr. 81
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 393
(14) Huỳnh Văn Trình: “Những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris về Việt Nam” trong cuốn Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 176
(15), (16) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1967 - 1969), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 10, tr. 200, 253
(17) Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2007, tr. 18
(18) Nguyễn Đình Phương: “Về cuộc đàm phán bí mật”, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 152
(19) Xem: Đặng Đình Quý: “Bàn về phương pháp tư duy Hồ Chí Minh: Vận dụng ngũ tri trong nghiên cứu đối ngoại”, Nghiên cứu quốc tế, số 2(93), tháng 6-2013, tr. 23 - 35
(20) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 36
TheO https://tapchicongsan.org.vn
CHÍNH SÁCH MỚI
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 1/2026
(Chinhphu.vn) - Các trường hợp được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 1/2026.
Các trường hợp được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 1/1/2026
Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Theo Nghị định, các đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 ngày 11/11/2016 của Quốc hội), cụ thể như sau:
1. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; diện tích đất làm muối.
2. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo.
3. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho các đối tượng sau đây:
a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp).

b) Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
c) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.
4. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.
Đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai; trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Quy định trên được thực hiện từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
Tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Nghị định 293/2025/NĐ-CP được ban hành quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng, áp dụng từ ngày 1/1/2026.
Theo đó, mức lương tối thiểu tháng và giờ của bốn vùng được điều chỉnh tăng so với hiện hành như sau:
Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng và 25.500 đồng/giờ (tăng 350.000 đồng so với mức cũ).
Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng và 22.700 đồng/giờ (tăng 320.000 đồng).
Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng và 20.000 đồng/giờ (tăng 280.000 đồng).
Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng và 17.800 đồng/giờ (tăng 250.000 đồng).
Đối tượng áp dụng gồm tất cả người lao động làm việc theo hợp đồng và người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động, bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân có thuê mướn lao động.
Ba nhóm người lao động phải đăng ký theo quy định mới
Chính phủ ban hành Nghị định số 318/2025/NĐ-CP ngày 12/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động.
Nghị định quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký lao động. Theo đó, Nghị định quy định 3 nhóm đối tượng được đăng ký lao động: Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15; Người lao động đang có việc làm và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; Người thất nghiệp là người đang không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.
Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân không thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động theo quy định tại Nghị định này.
Nghị định 318/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
Tiêu chí lựa chọn tổ chức được nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt
Chính phủ ban hành Nghị định 319/2025/NĐ-CP ngày 12/12/2025 quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền để triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt về phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đối với công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt theo các Nghị quyết của Quốc hội.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Về tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt, Nghị định quy định: Tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường sắt khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:
a) Là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam;
b) Có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng (đối với tổ chức) hoặc có đăng ký ngành nghề kinh doanh, giấy phép hoạt động (đối với doanh nghiệp) phù hợp với lĩnh vực công nghệ nhận chuyển giao;
c) Có quy mô về nhà xưởng, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, lắp đặt máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ;
d) Có nguồn lực tài chính hoặc khả năng huy động nguồn tài chính đủ để thanh, quyết toán chi phí nhận chuyển giao công nghệ;
đ) Có đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật, người lao động có năng lực quản lý, nghiên cứu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bảo đảm tiếp nhận, làm chủ, vận hành công nghệ nhận chuyển giao;
e) Có kế hoạch huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu nhận chuyển giao công nghệ;
g) Có cam kết bảo đảm hoàn thành việc tiếp nhận, làm chủ, vận hành công nghệ nhận chuyển giao;
h) Có kinh nghiệm hợp tác quốc tế về chuyển giao công nghệ;
i) Không đang trong quá trình thực hiện thủ tục giải thể hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh; không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản;
k) Có giá chuyển giao công nghệ không vượt dự toán kinh phí nhận chuyển giao công nghệ trong dự án đường sắt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4 chế độ đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu từ 01/01/2026
Nghị định 343/2025/NĐ-CP về chế độ an điều dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Các chế độ quy định tại Nghị định 343/2025/NĐ-CP như sau:
1 - Chế độ an điều dưỡng
Sĩ quan Quân đội nghỉ hưu hằng năm được hưởng tiền an điều dưỡng, mức hưởng tương đương với sĩ quan đang tại ngũ cùng cấp bậc quân hàm hoặc chức vụ, chi trả 01 lần/năm (trong quý I).
Ngoài ra, tùy từng đối tượng, sĩ quan nghỉ hưu còn được cấp phiếu mời cá nhân hoặc gia đình đi an điều dưỡng tại các Đoàn an điều dưỡng của Quân đội (hằng năm hoặc 2 năm/lần).
Khi đi an điều dưỡng, được bảo đảm nơi nghỉ, chăm sóc sức khỏe; được thanh toán tiền tàu xe theo quy định nếu tự túc phương tiện.
2 - Chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo
Sĩ quan nghỉ hưu mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh hiểm nghèo và được Hội đồng giám định y khoa kết luận thì:
- Hằng quý được hỗ trợ bằng 02 lần mức lương cơ sở, tính từ quý được kết luận mắc bệnh;
- Khi điều trị nội trú, được bảo đảm tiền ăn bệnh lý theo số ngày điều trị thực tế;
- Trường hợp đã được giám định mắc bệnh hiểm nghèo nhưng chưa kịp ban hành quyết định hưởng chế độ mà từ trần, thân nhân được hỗ trợ một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở.
3 - Chế độ thông tin
- Chế độ báo chí: Một số đối tượng sĩ quan nghỉ hưu được cấp tiền mua Báo Quân đội nhân dân (báo ngày, báo cuối tuần, tập san), cấp theo quý, mức tính theo giá báo tại thời điểm chi trả.
- Cung cấp thông tin, gặp mặt: Hằng năm, nhân các dịp lễ lớn (Tết Nguyên đán, Ngày thành lập Quân đội…), sĩ quan nghỉ hưu được gặp mặt, thông tin tình hình, tặng quà theo phân cấp (Bộ Quốc phòng, Quân khu, tỉnh, xã).
4 - Chế độ hỗ trợ tang lễ khi từ trần
- Trường hợp thuộc diện tổ chức lễ tang cấp Nhà nước hoặc cấp cao thì thực hiện theo quy định chung
- Các trường hợp còn lại, cơ quan, đơn vị chủ trì hoặc tham gia tổ chức lễ tang được hỗ trợ kinh phí (tính theo số lần mức lương cơ sở, tùy cấp tổ chức), để chi cho trang trí, lễ viếng, vòng hoa và các hoạt động phục vụ tang lễ.
Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Chính phủ ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP ngày 16/11/2025 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Nghị định này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp khẩn cấp cần khắc phục ngay hậu quả vi phạm (cưỡng chế), chi phí cưỡng chế, trách nhiệm thi hành và bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
BAN CTĐ VÀ TTN
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây