Những ngày đáng nhớ trong tháng 02:- Ngày 03/02/1930: Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam- Ngày 07/02/1418: Ngày Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn.- Ngày 17/02/2024: Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.- Ngày 15/02/1943: Ngày mất anh Kim Đồng - Người đội viên đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc (tiền thân của Đội TNTP Hồ Chí Minh).- Ngày 17/02/1979: Kỷ niệm Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.- Ngày 27/02/1955: Ngày Thầy thuốc Việt Nam.
THEO DÒNG LỊCH SỬ
Những ngày đáng nhớ trong tháng 02: - Ngày 03/02/1930: Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - Ngày07/02/1418: Ngày Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn. - Ngày17/02/2024: Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. - Ngày15/02/1943: Ngày mất anh Kim Đồng - Người đội viên đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc (tiền thân của Đội TNTP Hồ Chí Minh). - Ngày17/02/1979: Kỷ niệm Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. - Ngày27/02/1955: Ngày Thầy thuốc Việt Nam. Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 96 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2026) 1. Lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là lịch sử của quá trình đấu tranh cách mạng chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn liền với lịch sử của dân tộc. Đó là chặng đường muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng đầy vinh quang và rất đỗi tự hào. Mỗi bước thăng trầm của lịch sử cũng là bước đường thử thách làm cho Đảng ta ngày càng trưởng thành và lớn mạnh hơn trên con đường đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vào nửa cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta. Nhân dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, đó là sự cai trị của triều đình phong kiến bạc nhược hèn yếu và sự đàn áp, bóc lột thậm tệ của bọn thực dân xâm lược. Chúng tăng cường khai thác thuộc địa, vơ vét của cải đem về phục vụ cho chính quốc, đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, bần cùng. Hàng loạt phong trào yêu nước đã nổ ra khắp nơi trong cả nước nhưng đều thất bại, do chưa có đường lối cách mạng đúng đắn, chưa có chủ nghĩa cách mạng chân chính soi sáng dẫn đường. Lúc bấy giờ, ở trong nước xuất hiện các tổ chức cộng sản như Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Mặc dù các tổ chức đảng hoạt động đều vì mục đích là đấu tranh giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, trong một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam. Từ ngày 03 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. 2. Đây là một sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ mò mẫm, tìm đường cứu nước của các phong trào cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà người dẫn dắt là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng nước ta ngày càng lên cao; hàng loạt cuộc diễn tập diễn ra như cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết - Nghệ Tĩnh, cao trào đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Thời cơ ngàn năm có một đã đến, Trung ương Đảng tiến hành Hội nghị và quyết định ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, vận động toàn thể quốc dân, đồng bào đứng lên đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã nhanh chóng đứng lên giành lấy chính quyền. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã lật nhào chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng nhân dân ta thoát khỏi xiềng xích nô lệ, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một trang mới của lịch sử dân tộc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước non trẻ mới ra đời phải đối mặt với nhiều kẻ thù. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng với danh nghĩa Đồng minh giải giáp quân Nhật vào đóng quân từ bắc vĩ tuyến 16 đến biên giới Việt - Trung, miền Nam, quân Anh tiếp tay cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Vận mệnh dân tộc ta lúc này ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Bị thất bại, thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm tái chiếm lại nước ta, được sự giúp đỡ của quân Anh, chúng tiến hành gây chiến ở Nam Bộ, sau đó mở rộng đánh phá cả vùng Nam Trung bộ, gửi tối hậu thư đòi ta phải phá bỏ công sự trong thành phố và đòi kiểm soát, giữ gìn trật tự Hà Nội. Trước hành động bạo ngược của kẻ thù, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” với quyết tâm: “...chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ngày 7.5.1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ và ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với dã tâm của chủ nghĩa đế quốc, đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Đương đầu với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, Đảng ta chủ trương đánh Mỹ lâu dài, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh cả ba vùng (đồng bằng, thành thị, miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị và mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng lãnh đạo nhân dân ta từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, đưa phong trào cách mạng của cả nước giữ vững thế chủ động trên các mặt trận, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất hai miền Nam - Bắc, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, đưa đất nước bước vào thời kỳ mới: thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 3. Sau chiến tranh, Nhân dân ta lại phải đối mặt với những thách thức mới; hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại làm cho nền kinh tế của đất nước kiệt quệ, đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh để phát triển kinh tế, vừa lãnh đạo quân và dân đánh trả và đẩy lùi hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, đầy sáng tạo, dày dạn kinh nghiệm trong lãnh đạo, chiến đấu, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta tiếp tục nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Campuchia. Đồng thời, tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại; vừa kịp thời tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước liên tục tăng trưởng. Chính nhờ vậy, trong hoàn cảnh chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ (1990); các thế lực thù địch ráo riết tìm cách xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại ... thì ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, linh hoạt trong đường lối lãnh đạo, vượt qua khó khăn, thách thức. Với những thành tựu to lớn đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại … Chặng đường 55 năm sau ngày thống nhất đất nước, nhất là qua 40 năm đổi mới, do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; với ý chí độc lập, tự chủ, tự cường, khát vọng xây dựng và phát triển đất nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, lợi ích quốc gia dân tộc được bảo đảm. Riêng năm 2025, trong khi nhiều quốc gia chống suy thoái, kinh tế Việt Nam đã bứt phá ngoạn mục, cả năm ước đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới; quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới. GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.000 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức vào nhóm thu nhập trung bình cao; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm ước đạt hơn 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và khẳng định vững chắc vai trò mắt xích quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu; duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD); hoàn thành mục tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với hơn 334.000 căn nhà; hoàn thành mục tiêu xây dựng hơn 102 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm 2025, bảo đảm “an cư lạc nghiệp”, mang lại hạnh phúc cho người dân; hạ tầng tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…); hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020 (xếp thứ 83). Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016. Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối 10 tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Qua đó, tiếp tục mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội đột phá, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao giá trị chiến lược và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị toàn cầu và nền văn minh nhân loại. 4. Trong 96 năm qua, Đảng ta nỗ lực không ngừng, bám sát tình hình thực tiễn trong nước và thế giới để ban hành các quyết sách, chiến lược đúng đắn, sáng tạo đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để có những thắng lợi vĩ đại, vinh quang, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, dành nhiều thời gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt trong các nhiệm kỳ của Đảng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thực hiện toàn diện, đồng bộ, sâu sắc nhiệm vụ về xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, như: Công tác tư tưởng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đạt kết quả tốt; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, với tinh thần làm đến nơi đến chốn, không né tránh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; công tác dân vận, dân chủ cơ sở đã chuyển mạnh từ tuyên truyền, vận động sang tham mưu chính sách, giám sát và tổ chức thực thi, hướng tới mục tiêu chăm lo thiết thực đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của Nhân dân. Từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết mang tính đột phá về đường lối, thể chế, chính sách, tạo nền tảng vững chắc để đất nước sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71 NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Cùng với đó, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và thực thi được đổi mới về cả tư duy, cách làm; nhiều “điểm nghẽn” được kịp thời tháo gỡ; cơ bản hoàn thành tháo gỡ các vướng mắc thể chế; quyết liệt cải cách thủ tục hành chính; với tinh thần kiến tạo phát triển, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Đây là những định hướng lớn, đồng bộ, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng; là nền tảng đưa đất nước vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đặc biệt, năm 2025, Đảng đã lãnh đạo cả hệ thống chính trị đã triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đây là cuộc cách mạng mà không có nhiều quốc gia đã làm được; không chỉ diễn ra trong khối Chính 14 phủ mà bao trùm cả hệ thống chính trị, từ Đảng, Quốc hội, lực lượng vũ trang đến Mặt trận Tổ quốc. Từ đó tạo ra không gian phát triển kinh tế rộng mở; cắt giảm triệt để các khâu trung gian; giảm mạnh biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ, tiết kiệm nguồn lực lớn cho ngân sách nhà nước; xây dựng chính quyền gần dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Trước bối cảnh mới, với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã chính thức diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 19/01 đến ngày 25/01/2026. Đây là dấu mốc lịch sử trọng đại trên con đường phát triển của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên mà Việt Nam quyết tâm hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm là 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước; phấn đấu để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội. 5. Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 96 năm qua, Đảng ta đã tích lũy và đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm lớn: Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hai là, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng. Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công. Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại. Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên. 6. Gắn liền với những trang sử hào hùng của dân tộc, của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ và Nhân dân thành phố Đà Nẵng, đồng bào các dân tộc xã Trà My với truyền thống yêu nước nồng nàn, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Điều đó được minh chứng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), đồng bào các dân tộc huyện Trà My (cũ) đã được đón nhận một luồng gió mới, một ánh sáng mới, có Đảng, có Bác Hồ soi sáng, dẫn đường, chỉ lối để đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đã tạo ra niềm tin tưởng của đồng bào đối với Đảng, năm 1948, chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Trà My được thành lập, đây là một nền móng của Đảng cho quá trình công tác xây dựng Đảng ở huyện Trà My. Ngày 28 tháng 10 năm 1949, Đảng bộ huyện Trà My được thành lập tại Đồng Trầu, xã Trà Giang, huyện Trà My (nay thuộc xã Trà My), do đồng chí Trần Mịch làm Bí thư. Đó là một sự kiện chính trị trọng đại đối với Đảng bộ và nhân dân huyện Trà My, đánh dấu một bước chuyển biến to lớn về phong trào cách mạng của huyện. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, tất cả cán bộ, đảng viên đã thể hiện sự quyết tâm, phấn khởi, cảm động và ghi lòng tạc dạ trách nhiệm nặng nề, to lớn trước Đảng, trước nhân dân. Tháng 3 năm 1951, Đảng bộ Trà My tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ I tại xã Trà Giang với 30 đại biểu tham dự; đồng chí Trần Huệ được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Đại hội kêu gọi Nhân dân nêu cao tinh thần đoàn kết, sẵn sàng đấu tranh không cho địch mở rộng địa bàn hoạt động; kêu gọi tăng gia sản xuất; chú trọng công tác xây dựng đảng, tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên đi sâu hoạt động ở các vùng trọng yếu của huyện. Là địa bàn chiến lược quan trọng nối liền giữa đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi với chiến trường Tây Nguyên, vùng Trà My được Ban cán sự Miền Tây tập trung xây dựng thành địa bàn chiến lược do Khu uỷ V trực tiếp chỉ đạo. Phong trào cách mạng tại Trà My từ đó phát triển lên một tầm cao mới; điển hình là đợt vận động đấu tranh giải phóng phá gum, phá tề trong chiến dịch Xuân hè năm 1954 đã cổ vũ mạnh mẽ đồng bào vùng lên đánh đổ thực dân Pháp. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, niềm vui chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ xâm lược nước ta. Trong giai đoạn cách mạng này, từ năm 1955 - 1960, Đảng bộ huyện đã tổ chức các buổi Hội nghị bàn những biện pháp cấp bách để lãnh đạo phong trào đấu tranh ở vùng thấp, đề phòng địch tấn công lên vùng trung và vùng cao, đề ra phương cách chống khủng bố “tố cộng”, "diệt cộng"; bàn kế hoạch thực hiện chủ trương giữ vững thế an toàn miền núi của Ban cán sự Miền Tây Quảng Nam. Từ giai đoạn năm 1962 đến năm 1974, Đảng bộ huyện vừa tập trung lãnh đạo Nhân dân tham gia các phong trào cách mạng, vừa tập trung lãnh đạo công tác tổ chức đại hội Đảng, vừa tập trung ổn định tình hình do chủ trương của Tỉnh uỷ nhiều lần chia tách và sáp nhập. Qua 12 năm đã tổ chức 05 kỳ đại hội: II, III, IV, V và VI. Theo đó, lần lượt đồng chí Phạm Xuân Thâm, Nguyễn Ngọc Quyến, Huỳnh Quang Toản, Nguyễn Văn Khương, Đỗ Kim Bân được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, Nhân dân trong toàn huyện luôn tích cực tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất và trong chiến đấu, đóng góp một lượng lớn lương thực phục vụ kháng chiến. Cũng trong giai đoạn này, đã diễn ra một sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị quan trọng, đó là vào đêm 27/3/1971, dưới sự lãnh đạo của khu ủy Khu V và Bộ Tư lệnh, Tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu V cùng với du kích xã Đốc đã tấn công và tiêu diệt gọn cứ điểm xã Đốc, giải phóng hoàn toàn huyện Trà My. Sau khi Trà My được giải phóng, Đảng bộ huyện tiếp tục thực hiện xây dựng căn cứ địa vững mạnh; tăng cường khối đại đoàn kết; Phát huy quyền làm chủ của nhân dân; Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; theo đó, đã xây dựng kế hoạch sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất và cây trồng để thuận lợi cho việc quản lý, sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu tại chỗ và nuôi quân kháng chiến; tham gia mở đường trong huyện và đường hành quân từ miền núi xuống đồng bằng phục vụ cách mạng. Với đường lối đổi mới toàn diện đất nước được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986. Theo đó, các kỳ Đại hội trong giai đoạn từ 1986-2003, Đảng bộ huyện đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm là: Ổn định và phát triển sản xuất theo hướng ưu tiên sản xuất lương thực, phát triển nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; kết hợp phát triển kinh tế - văn hóa với quốc phòng, an ninh; chuyển mạnh từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường. Ngày 01/08/2003, huyện Trà My được chia tách thành 02 huyện Nam Trà My và Bắc Trà My theo Nghị định số 72/NĐ-CP của Chính phủ. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là Nhân dân vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của huyện. Đây cũng là giai đoạn phát triển vượt bậc về xây dựng các công trình giao thông, điện đường, trường, trạm đặc biệt là thành tựu quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. 7. Trước yêu cầu khách quan và yêu cầu của sự phát triển, theo Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH, ngày 16/6/2025 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Đà Nẵng năm 2025, xã Trà My được hình thành từ 4 đơn vị (thị trấn Trà My, xã Trà Sơn, xã Trà Giang, xã Trà Dương), Đảng bộ có 38 chi bộ trực thuộc với 936 đảng viên. Qua 6 tháng vận hành theo chính quyền địa phương 2 cấp, Đảng bộ và Nhân dân xã đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được đánh giá là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm 2025. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường. Chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng nâng cao. Bộ máy chính quyền, Mặt trận và tổ chức chức chính trị - xã hội được củng cố, kiện toàn; công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số triển khai thực hiện hiệu quả; dân chủ cơ sở được mở rộng, nội dung, phương thức hoạt động được đổi mới; quốc phòng - an ninh được tăng cường và giữ vững, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Những thành tựu đạt được của Đảng bộ xã Trà My đã củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào sự nghiệp đổi mới đất nước và con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng ta lãnh đạo. Tinh thần đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ và khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng được củng cố và phát triển bền vững. Những kết quả trên đây, đã làm diện mạo của quê hương xã Trà My thân yêu ngày càng thay da đổi thịt. Tuy còn khó khăn và thách thức ở phía trước nhưng tất cả những gì chúng ta làm được có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm tiền đề, động lực để Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc anh em trong xã vững bước tiến lên thực hiện nhiệm vụ mới đầy tự tin và thắng lợi./. Nguồn tin: ĐẢNG UỶ XÃ TRÀ MY
Ngày 17/02/2026: Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026
Nhân dịp Tết Bính Ngọ 2026, Báo Quân đội nhân dân (QĐND) xuất bản ấn phẩm đặc biệt hơn 100 trang có nội dung phong phú, trình bày đẹp, là món ăn tinh thần đặc sắc gửi tới bạn đọc cả nước trong những ngày đầu Xuân mới.
Với chủ đề “Vững bước trên đường lớn”, nội dung ấn phẩm khẳng định những thành tựu, kết quả đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại... trong năm 2025, đồng thời khẳng định ý nghĩa đặc biệt của năm 2026-năm diễn ra và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, năm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.
Xã luận “Vững bước trên đường lớn!” của Báo QĐND khẳng định: “Niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước là tài sản vô giá, là nền tảng vững chắc nhất, cần phải hết sức trân trọng, bồi đắp, coi đây là nhiệm vụ có tính sống còn. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thực sự nêu gương sáng, tôn trọng nhân dân, nâng cao năng lực, trách nhiệm, đạo đức công vụ, không ảo tưởng, không lý thuyết suông, không vụ lợi, cơ hội; phải thực hiện lời dạy của Bác Hồ, làm công bộc của nhân dân, biết lắng nghe dân và trân trọng từng giọt mồ hôi của nhân dân... Nắng Xuân Bính Ngọ đã rạng ngời khắp non sông. Đường lớn thênh thang trước mắt. Đất nước ta vững vàng bước tới vinh quang!”. Nhân dịp Tết Bính Ngọ và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2026), Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã chia sẻ với phóng viên Báo QĐND chủ đề về thực hành đạo đức cách mạng; trao gửi thông điệp về sự dấn thân, cống hiến của cán bộ, đảng viên, các chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân vì một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới. Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ: “Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm mở đầu việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải hành động quyết liệt, làm việc có trọng tâm, trọng điểm và tạo chuyển biến rõ nét. Thực tiễn cho thấy, khát vọng chỉ có thể trở thành hiện thực khi được cụ thể hóa bằng kỷ cương, trách nhiệm và hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Với tinh thần đó, trước hết cần tạo đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, khơi thông, giải phóng và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực con người, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển trong kỷ nguyên mới đòi hỏi dựa trên trí tuệ, sáng tạo và giá trị gia tăng cao, gắn tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững; tăng trưởng phải gắn với hạnh phúc của nhân dân”. Với ghi chép “Mở lòng bao dung để giữ lấy hòa bình”, tác giả Nguyễn Anh Tuấn kể về chuyến công tác của Chủ tịch nước Lương Cường đến New York (Hoa Kỳ) tham dự Kỳ họp lần thứ 80 Đại hội đồng Liên hợp quốc vào tháng 9-2025. Trong chuỗi hoạt động của Chủ tịch nước, chiều 22-9-2025, tại thành phố New York diễn ra buổi gặp gỡ cựu chiến binh Việt Nam-Hoa Kỳ đầy ý nghĩa, chứa đựng thông điệp sâu sắc về công lý và đạo lý. Tác giả Hồ Quang Phương kể về hình ảnh “Thủ tướng và chiếc áo đẫm mồ hôi...”, khắc họa hình ảnh Thủ tướng Phạm Minh Chính với chiếc áo đẫm mồ hôi, thường xuyên có mặt trên các công trình trọng điểm đã để lại những ấn tượng sâu sắc. Trong bài “Thông điệp từ Việt Nam”, tác giả Vũ Dung kể về chuyến tháp tùng Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tham dự Hội nghị các Chủ tịch Quốc hội thế giới lần thứ 6 và tiến hành các hoạt động song phương tại Geneva, Thụy Sĩ (từ ngày 27 đến 30-7-2025). Báo QĐND Tết Bính Ngọ gửi tới bạn đọc những chia sẻ với phóng viên Báo QĐND của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Về định hướng, nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội ta trong năm 2026, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết: “Năm 2026 là năm đầu tiên của nhiệm kỳ 2025-2030, năm mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, bắt đầu triển khai xây dựng Quân đội hiện đại với những yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi rất cao. Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 15 và Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2025 đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, nhất là chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương về “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và phương châm “5 vững”. Những nội dung này, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải quán triệt và quyết liệt triển khai thực hiện thắng lợi”. Nhân dịp Xuân mới, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị có bài viết “Quán triệt các nghị quyết của Đảng, xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị”. Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định: “Xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị là vấn đề có ý nghĩa sống còn, là nền tảng căn cốt, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội...”. Các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhà báo đã gửi tới Báo QĐND những bài viết tâm huyết, mang đậm tính thời sự: “Câu chuyện nhỏ, đạo đức lớn” (TS Chu Đức Tính); “Ngày xuân suy ngẫm về quyền sung sướng, tự do, hạnh phúc” (PGS, TS Phạm Quang Long); “Việt Nam và khát vọng 2045” (PGS, TS Đỗ Chí Nghĩa); “Bay lên” cùng đất nước!” (Đại tá, nhà văn, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú); “Tâm thế kỷ nguyên mới” (Trần Trung Tín); “Mùa xuân và khát vọng Việt Nam phú cường” (TS Nhị Lê); “Ngẫm về lời người sáng lập Đảng ta” (Đại tá, nhà thơ Đỗ Trung Lai); “Tổ quốc tôi, 96 mùa xuân có Đảng” (Lê Ngọc Long)... Ấn phẩm giới thiệu ký ức tết, những kỷ niệm sâu sắc trong kháng chiến: “Đường ra trận mùa xuân” (PGS, TS Phạm Thành Hưng); “Tết Nam, Tết Bắc” (Trung tướng Phạm Thanh Lân); “Đón Tết dưới rừng thốt nốt” (Đại tá, nhà văn Trần Thế Tuyển)... Câu chuyện về nghĩa cử cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, tinh thần yêu nước, tình đoàn kết quân dân... được thể hiện trong các bài: “Đời chiến sĩ” của Đại tướng Phạm Văn Trà” (Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu); “Người thầy chỉ dạy nguyên tắc “vàng” viết sách” (Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu); “Trên cầu Phong Châu mới” (Duy Thành); “Khúc khải hoàn “Chiến dịch Quang Trung” (Nguyễn Anh Sơn); “Những chuyến tàu nối tình hữu nghị” (Chu Anh); “Sắc xuân nơi “rốn lũ” (Hà Khánh-Nguyễn Thịnh); “Nữ phóng viên và khát vọng cống hiến cho sứ mệnh hòa bình” (Thiện Văn), “Xuân về trên vùng biên Huồi Pốc” (Hà An)... Bức tranh kinh tế-xã hội cùng lĩnh vực văn hóa, thể thao, các vấn đề thời sự quốc tế được phản ánh sinh động qua phân tích chuyên sâu của các tác giả: “Tư duy thể chế và phát triển bền vững” (TS Nguyễn Sĩ Dũng); “Siêu đô thị-hiện thực và tầm nhìn” (Phan Tùng Sơn); “Mùa xuân mới của văn hóa nước nhà” (PGS, TS Bùi Hoài Sơn); “Thúc đẩy văn hóa Hà Nội phát triển” (TS Bountheng Souksavatd); “Nhà máy chế tạo chip bán dẫn và sứ mệnh tự chủ công nghệ cao” (Minh Anh); “Kim chỉ nam trong “cơn bão táp” toàn cầu” (Tường Linh); “Ngàn Phật động” giữa nghìn năm bão cát sa mạc” (Đỗ Doãn Hoàng)... Lĩnh vực văn học-nghệ thuật, ấn phẩm gửi tới bạn đọc truyện ngắn “Mùa xuân nhân ảnh” (Tống Phước Bảo); trang thơ của các tác giả: Vương Trọng, Trần Đăng Khoa, Trần Kim Hoa, Nguyễn Tiến Thanh, Hữu Việt, Nguyễn Văn Song; tranh, ảnh, minh họa của các tác giả: Trọng Hải, Phú Sơn, Tuấn Huy, Việt Trung, Trung Thành, Tùng Cao, Thái Hòa... Báo QĐND Tết Bính Ngọ phát hành ngày 2-2-2026. Mời bạn đọc đặt mua tại các điểm bưu điện hoặc đại lý phát hành báo chí trên toàn quốc. Nguồn tin: Báo Quân đội nhân dân
07/02/1418: Ngày Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn Khởi nghĩa Lam Sơn: Nguyên nhân, diễn biến và ý nghĩa lịch sử:
Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) do Lê Lợi lãnh đạo là một trong những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ vùng rừng núi Thanh Hóa, nghĩa quân từng bước lớn mạnh, đánh bại quân Minh, chấm dứt hơn hai thập kỷ đô hộ và mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài cho Đại Việt.
Những nguyên nhân lịch sử dẫn đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Bối cảnh lịch sử Cuối thế kỷ XIV, triều Trần suy yếu nghiêm trọng, bộ máy cai trị rối ren, quan lại tham nhũng, đời sống nhân dân cực khổ. Trong bối cảnh đó, Hồ Quý Ly giành ngôi lập ra nhà Hồ (1400), nhưng không củng cố được lòng dân. Năm 1406, nhà Minh lấy cớ “phù Trần diệt Hồ” đem quân xâm lược Đại Việt. Sau khi nhà Hồ thất bại, đất nước rơi vào ách đô hộ hà khắc. Quân Minh thi hành chính sách bóc lột nặng nề, đàn áp văn hóa, cướp đoạt tài nguyên và sức lao động, khiến xã hội rơi vào cảnh điêu linh. Sự áp bức ấy làm bùng lên tinh thần phản kháng mạnh mẽ trong nhân dân. Nhiều cuộc nổi dậy lẻ tẻ nổ ra nhưng chưa đủ sức tạo thành phong trào lớn. Thanh Hóa – Nghệ An dần trở thành nơi hội tụ hào kiệt, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa quy mô toàn quốc. Nguyên nhân trực tiếp Nguyên nhân cốt lõi của khởi nghĩa Lam Sơn là mâu thuẫn dân tộc sâu sắc giữa nhân dân Đại Việt và ách thống trị của nhà Minh. Chính sách cai trị tàn bạo, hủy hoại văn hóa bản địa đã biến lòng căm phẫn thành quyết tâm đấu tranh giành độc lập. Lê Lợi – một hào trưởng có uy tín ở Lam Sơn – đã đứng ra tập hợp lực lượng, chiêu mộ hào kiệt, lựa chọn vùng Lam Sơn làm căn cứ ban đầu, xác định mục tiêu lâu dài là đánh đuổi quân Minh, khôi phục quốc gia độc lập. Diễn biến chính của khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427)
Toàn cảnh các giai đoạn phát triển của khởi nghĩa Lam Sơn
Giai đoạn 1418–1423: Cầm cự và giữ lực lượng Ngày 2 tháng Giêng năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn. Do lực lượng còn non yếu, vũ khí và lương thực thiếu thốn, nghĩa quân phải đối mặt với sự truy quét gắt gao của quân Minh và buộc rút vào vùng núi Chí Linh để bảo toàn lực lượng. Trong giai đoạn gian nan này, sự hy sinh của Lê Lai đã trở thành biểu tượng bất tử. Ông cải trang làm Lê Lợi, dẫn quân đánh lạc hướng địch và chấp nhận hy sinh để cứu chủ tướng cùng nghĩa quân. Nhờ đó, phong trào Lam Sơn vượt qua thời khắc hiểm nghèo nhất. Giai đoạn 1424–1426: Mở rộng địa bàn, tạo thế mới Sau nhiều năm cầm cự, Lê Lợi cùng các mưu sĩ quyết định chuyển hướng chiến lược vào Nghệ An. Đây là bước ngoặt quan trọng, bởi Nghệ An có địa thế thuận lợi, dân cư đông, lương thực dồi dào. Từ Nghệ An, nghĩa quân nhanh chóng mở rộng vùng giải phóng, tiến vào Tân Bình và Thuận Hóa. Các thắng lợi liên tiếp giúp củng cố lực lượng, tích trữ hậu cần và xây dựng căn cứ vững chắc cho giai đoạn phản công quyết định. Năm 1426: Tiến công ra Bắc
Năm 1426 – nghĩa quân Lam Sơn chuyển sang thế chủ động tiến công Năm 1426 đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ từ phòng ngự sang tiến công. Nghĩa quân chia nhiều mũi tiến ra Bắc, giành thắng lợi vang dội tại Tốt Động – Chúc Động, làm tan rã lực lượng chủ lực của quân Minh. Sau chiến thắng này, nghĩa quân vây hãm Đông Quan (Thăng Long), cắt đứt đường tiếp viện và đặt quân Minh vào thế bị cô lập. Năm 1427: Quyết chiến và toàn thắng Để cứu nguy Đông Quan, nhà Minh đưa hai đạo viện binh lớn do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy tiến vào Đại Việt. Nắm chắc ý đồ địch, Lê Lợi triển khai chiến lược “vây thành diệt viện”. Tại Chi Lăng – Xương Giang, nghĩa quân phục kích tiêu diệt hoàn toàn đạo quân Liễu Thăng. Nghe tin thất bại, đạo quân Mộc Thạnh hoảng sợ rút lui. Trước thế trận bất lợi, tướng Minh Vương Thông buộc phải đàm phán và rút quân, chấm dứt ách đô hộ. Nghệ thuật quân sự và tổ chức lực lượng
Nghệ thuật quân sự linh hoạt trong khởi nghĩa Lam Sơn Khởi nghĩa Lam Sơn thành công nhờ vận dụng linh hoạt chiến thuật “tránh mạnh đánh yếu”, kết hợp chiến tranh du kích với chính quy, đánh vào hậu cần và tiếp vận của địch. Bên cạnh quân sự, công tác địch vận và ngoại giao được chú trọng. Nghĩa quân chủ trương thuyết phục, chiêu hàng, giảm tổn thất không cần thiết. Hội thề Đông Quan năm 1427 là minh chứng cho tư tưởng nhân nghĩa và tầm nhìn chiến lược lâu dài. Hậu cần dựa vào dân là yếu tố sống còn. Nhân dân các vùng căn cứ tích cực cung cấp lương thực, che chở nghĩa quân, góp phần duy trì cuộc chiến bền bỉ suốt gần mười năm. Kết quả và ý nghĩa lịch sử Khôi phục độc lập, thống nhất đất nước Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn đã chấm dứt hoàn toàn 20 năm đô hộ của nhà Minh, khôi phục nền độc lập, thống nhất lãnh thổ Đại Việt và khẳng định chủ quyền dân tộc. Mở ra thời Lê sơ Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Lê Thái Tổ, khai sáng triều Hậu Lê. Đây là triều đại phong kiến hùng mạnh, đặt nền tảng cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước. Tư tưởng độc lập qua “Bình Ngô đại cáo” Sau chiến thắng, “Bình Ngô đại cáo” được ban bố, khẳng định nền độc lập, truyền thống văn hiến và ý chí tự cường của Đại Việt. Tác phẩm trở thành biểu tượng tư tưởng và tinh thần yêu nước cho nhiều thế hệ. Nhân vật tiêu biểu của khởi nghĩa Lam Sơn
Tượng vua Lê Lợi – linh hồn của khởi nghĩa Lam Sơn
Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn gắn liền với vai trò của nhiều nhân vật kiệt xuất: Lê Lợi – người lãnh đạo tối cao; Nguyễn Trãi – mưu sĩ, nhà tư tưởng lớn; Nguyễn Chích – người đề xuất chiến lược Nghệ An; và Lê Lai – biểu tượng của lòng trung nghĩa, hy sinh.
Lê Lai hy sinh để bảo vệ chủ tướng và nghĩa quân
Kết luận Khởi nghĩa Lam Sơn là bản anh hùng ca vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thể hiện ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và trí tuệ quân sự xuất sắc. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không chỉ giải phóng đất nước mà còn để lại nhiều bài học quý giá về sức mạnh của nhân dân và nghệ thuật lãnh đạo trong lịch sử Việt Nam. Nguồn tin: bchqsquangtri.com.vn
Kỷ niệm 83 năm Ngày hy sinh của Liệt sĩ – Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân Kim Đồng (15/02/1943 - 15/02/2026)
Kim Đồng (1929 – 15 tháng 2 năm 1943) là bí danh của Nông Văn Dèn (một số sách báo ghi nhầm thành Nông Văn Dền), một thiếu niên người dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Anh là người đội trưởng đầu tiên của tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Đội Thiếu niên Tiền phong được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1941. Bí danh của năm đội viên đầu tiên là: Kim Đồng, Cao Sơn, Thanh Minh, Thanh Thủy, Thủy Tiên. Kim Đồng, tên thật là Nông Văn Dèn. Dèn tiếng Tày, Nùng có nghĩa là Tiền. Một số sách báo đội mũ cho chữ Dèn thành chữ Dền. Trong khi Dền không có nghĩa gì cả. Có thể khi sinh Dền, bố mẹ Dền mong đứa con trai của mình sau này sẽ có cuộc sống tốt, có nhiều tiền bạc nên mới đặt tên như vậy. Ngoài ra tên đó còn có ý nghĩa là đứa con yêu, đứa con quý như tiền bạc vậy. Bố Kim Đồng, người làng Nà Mạ, tên là Nông Văn Ý. Trong một lần sang quê vợ ở làng Kép Ké (Nà Sác) bị nạn, chết không xác định được nguyên nhân chính xác. Mẹ Kim Đồng tên là Lân Thị He, quê làng Kép Ké, sinh năm 1890. Bà là một phụ nữ chăm chỉ, hết lòng vì chồng con, giỏi nghề dệt và làm giấy bản (chỉa sla), là hội viên Hội phụ nữ cứu quốc: Sức khỏe bà yếu (bị bệnh khớp) nên từ nhỏ Kim Đồng đã làm nhiều việc của người lớn, điều đó sớm hình thành trong Kim Đồng những tính cách của "người lớn": Quyết đoán, năng động, không ngại khó,... Kim Đồng có 2 chị gái, một anh trai và một em gái. Chị gái cả tên là Nông Thị Nhằm (Nhằm, tiếng Tày, Nùng là Mong nhớ). Lấy chồng trong làng tên là Lý Văn Kinh thường được gọi là Kinh Xình, nhà anh Kinh Xình là nơi hội họp, đón tiếp, bảo vệ cán bộ cách mạng. Trong ngôi nhà này, ngày 14/2/1943, lãnh đạo chủ chốt Châu uỷ Hà Quảng họp, nhờ hành động dũng cảm của Kim Đồng mà thoát cả lên núi phía sau nhà. Chị gái thứ hai là Nông Thị Lằng cũng lấy chồng trong làng. Anh trai là Nông Văn Tằng (bí danh là Phục Quốc) sớm tham gia cách mạng, là đội viên giải phóng quân, chiến đấu và hy sinh ở Chợ Đồn (Bắc Kạn). Để anh Phục Quốc có điều kiện hoạt động cách mạng, 12 tuổi, Kim Đồng đã thay anh đi phu, chặt cây, trồng cỏ ở đồn Sóc Giang. Em gái là Nông Thị Slấn (Slấn tiếng Tày, Nùng có nghĩa là tin tưởng), xinh đẹp, chăm chỉ. Một lần qua suối, không may trượt chân ngã, chết đuối. Kim Đồng đã cùng những đội viên này làm nhiệm vụ giao liên đưa đón cán bộ cách mạng, chuyển thư từ. Trong một lần đi liên lạc, phát hiện có địch (thực dân Pháp), Kim Đồng đã đánh lạc hướng bọn Pháp để các bạn của mình đưa bộ đội về căn cứ được an toàn. Kim Đồng chạy qua suối, qua con đường mà thường ngày vốn đã rất quen thuộc với anh. Tất nhiên bọn thực dân Pháp theo không kịp liền xả súng xối xả vào anh. Anh đã anh dũng hi sinh ngay bên bờ suối Lê Nin (Cao Bằng) ngày 15 tháng 2 năm 1943, anh vừa tròn 14 tuổi. Cho đến tháng 7 năm 1997, Kim Đồng được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Nguồn: http://ubmttq.hochiminhcity.gov.vn/
17/02/1979: KỶ NIỆM 47 NĂM CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA TỔ QUỐC
Chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc 1979 - Thắng lợi và bài học lịch sử Ngày 17-02-1979, thực hiện kế hoạch vạch ra từ trước, nhà cầm quyền Trung Quốc đã phát động cuộc tiến công quy mô lớn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh). Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, quân và dân Việt Nam anh dũng chiến đấu, giáng trả quyết liệt. Chịu nhiều tổn thất mà chưa đạt được mục tiêu ban đầu đề ra, đồng thời bị dư luận thế giới lên án mạnh mẽ do tính chất phi nghĩa của cuộc tiến công, phía Trung Quốc cơ bản rút hết quân về nước vào ngày 18-3-1979. Cuộc chiến tranh phi nghĩa của phía Trung Quốc Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, nhân dân hai nước gắn bó mật thiết, đoàn kết giúp đỡ nhau. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi (1975), quan hệ hai nước dần xấu đi. Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, mở ra công cuộc hồi sinh đất nước, chính quyền Trung Quốc cùng một số nước khác ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia. Mục đích của họ là muốn chống phá cách mạng Việt Nam, hậu thuẫn cho các thế lực phản động để mưu toan áp đặt lợi ích dân tộc của họ trên bán đảo Đông Dương. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế lúc này đang có những diễn biến rất phức tạp khi mâu thuẫn Liên Xô - Trung Quốc gia tăng căng thẳng; quan hệ Trung Quốc - Mỹ tiếp tục có sự cải thiện và cả hai đều coi Liên Xô là “kẻ thù số 1”. Sau nhiều lần gây ra các vụ khiêu khích quân sự quy mô nhỏ, từ ngày 17-02-1979, phía Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân, trên 500 xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại... mở cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh), trong đó hướng tiến công chủ yếu là Cao Bằng - Lạng Sơn; hướng tiến công quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh thu hút lực lượng là Quảng Ninh, Hà Tuyên. Mở cuộc tiến công xuống biên giới phía Bắc Việt Nam, các nhà cầm quyền Trung Quốc hướng đến những mục tiêu cơ bản: Thứ nhất, buộc Việt Nam phải rút Quân tình nguyện ra khỏi Campuchia, tạo điều kiện cho quân Pol Pot hồi phục lực lượng, giữ được những căn cứ còn lại, tiếp tục chống phá chính quyền cách mạng Campuchia vừa thiết lập. Thứ hai, tranh thủ sự ủng hộ của một số nước lớn đang chống phá cách mạng Việt Nam (trong đó có Mỹ) để giúp Trung Quốc thực hiện “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quân đội, khoa học - kỹ thuật). Thứ ba, phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, kích động bạo loạn, hạ uy thế quân sự, chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế sau chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược năm 1975. Thứ tư, thị uy sức mạnh đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á; đồng thời thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu quân sự sau này. Bộ Chỉ huy phía Trung Quốc chủ quan nhận định: với lực lượng, vũ khí trang bị chiếm ưu thế áp đảo hiện tại (bộ binh đông hơn gấp 3,5 lần; pháo binh nhiều gấp 5,7 lần; xe tăng, thiết giáp nhiều gấp 9,8 lần…), quân Trung Quốc sẽ nhanh chóng đập tan hệ thống phòng thủ biên giới của Việt Nam; mặt khác, một bộ phận lớn Quân đội Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, lực lượng tăng cường cho mặt trận biên giới sẽ gặp nhiều khó khăn. Từ nhận định đó, Bộ Chỉ huy phía Trung Quốc đề ra kế hoạch là nhanh chóng đánh chiếm một số thị xã, địa bàn quan trọng, sau đó tùy điều kiện tình hình cụ thể có thể phát triển sâu vào nội địa Việt Nam. Trên mỗi hướng tiến công, quân Trung Quốc thường kết hợp đánh chính diện với vu hồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt; phối hợp giữa bộ binh, xe tăng, xe bọc thép và pháo binh, thực hiện đánh phá triệt để toàn diện rất tàn khốc. Tuy nhiên, trên thực tế, quân Trung Quốc đã gặp phải sự giáng trả quyết liệt từ phía Việt Nam. Quyền tự vệ chính đáng của nhân dân Việt Nam Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (năm 1975), nhiều đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam (trong đó có cả Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn) sang thăm Trung Quốc, khẳng định: Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sâu sắc Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc về sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần trong hai cuộc kháng chiến cứu nước; phía Việt Nam luôn coi trọng việc giữ gìn quan hệ láng giềng hữu nghị hợp tác với Trung Quốc. Cuối năm 1978, đầu năm 1979, khi quan hệ hai nước căng thẳng, xung đột vũ trang nhỏ lẻ ở biên giới liên tục diễn ra, phía Việt Nam vẫn kiên trì kêu gọi Chính phủ Trung Quốc cùng nhau đàm phán giải quyết mọi mâu thuẫn, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đáp lại thiện chí đó, phía Trung Quốc vẫn chủ trương tiến hành đường lối chống Việt Nam, cắt toàn bộ viện trợ đã cam kết, đưa ra những đòi hỏi vô lý khi đàm phán (Việt Nam rút Quân tình nguyện khỏi Campuchia, có quy chế riêng bảo đảm quyền lợi người Việt gốc Hoa ở miền Nam Việt Nam...). Mặt khác, Chính phủ Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “Việt Nam lấn chiếm đất đai, quấy rối biên cương phía Nam Trung Quốc” nhằm đánh lạc hướng dư luận trong và ngoài nước, từ đó ngang ngược tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”. Lường định về một cuộc chiến tranh có thể xảy ra, cuối năm 1978, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam khẩn trương tăng cường lực lượng củng cố tuyến phòng thù biên giới phía Bắc. Trước cuộc tiến công quy mô lớn của Trung Quốc, ngày 17-02-1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định quân và dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả. Trong những ngày đầu chiến tranh, phía Việt Nam chủ trương không tập trung lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút lực lượng chủ lực cơ động phía Nam ra, mà phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Trải qua 10 ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã chiến đấu rất anh dũng, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiên chiến tranh, làm chậm ý định “đánh nhanh, chiếm nhanh” của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc từng bước tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, lần lượt chiếm một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19-02), Cao Bằng (24-02), Cam Đường (25-02), Lạng Sơn (05-3)... Trước tình hình cấp bách đó, Chính phủ Việt Nam quyết định sử dụng các binh đoàn chủ lực mạnh, sẵn sàng mở những chiến dịch phản công quy mô lớn của binh chủng hợp thành. Theo phương châm đó, đầu tháng 3-1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Việt Nam ra lệnh cho Quân đoàn 2 đang làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc tập kết, đồng thời, ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 02-3-1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm bốn sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không - Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu. Để phát huy sức mạnh tổng hợp cả nước, ngày 04-3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam ra quyết định tổng động viên lực lượng bảo vệ Tổ quốc. Kế hoạch tác chiến chiến lược được bổ sung thảo luận thông qua. Vào thời gian này, do bị thiệt hại nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, tối 05-3-1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước. Để tỏ thiện chí hòa bình, mong muốn khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam ra lệnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc dừng chiến dịch phản công để tạo điều kiện cho quân Trung Quốc rút về. Đến ngày 18-3-1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam. Thắng lợi và bài học lịch sử Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của nhân dân Việt Nam diễn ra trong vòng khoảng một tháng (từ 17-02 – 18-3-1979) nhưng có ý nghĩa thắng lợi rất to lớn, thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản: Quân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân Trung Quốc, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng, xe thiết giáp, phá hủy 115 khẩu pháo và cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự... buộc đối phương sớm rút quân, qua đó làm thất bại hoàn toàn ý đồ của các nhà cầm quyền Trung Quốc muốn áp đặt lợi ích nước lớn lên bán đảo Đông Dương. Cuộc chiến đấu này thêm một lần nữa khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bởi Việt Nam lúc này vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa lâu (1975), vừa kết thúc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước, kinh tế lại đang gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ... Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của nhân dân Việt Nam góp phần khẳng định đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sự chỉ đạo chiến lược tài tình, sắc bén của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương Việt Nam, nhất là trong việc nắm bắt tình hình, đánh giá đúng khả năng hành động của đối phương, trên cơ sở đó kịp thời chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang và nhân dân chuẩn bị các mặt sẵn sàng đối phó; tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Qua thực tiễn điều hành, chỉ đạo chiến tranh, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định về quyền tự vệ chính đáng của mình, kiên quyết đánh trả mọi cuộc tiến công xâm phạm chủ quyền, nhưng đồng thời cũng luôn thể hiện rõ lòng bao dung, khát vọng hòa bình, mong muốn chấm dứt xung đột để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Trung Quốc, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới. Để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh, nhân dân Việt Nam cũng chịu những tổn thất nặng nề: hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ thương vong; hàng chục ngàn dân thường bị thiệt mạng. Các thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn, Cam Đường, Lào Cai gần như bị hủy diệt hoàn toàn; tổng cộng có 320 xã, 735 trường học, 41 nông trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 38 lâm trường bị tàn phá; 400.000 gia súc bị giết, bị cướp. Khoảng 50% trong tổng số 3,5 triệu người ở 6 tỉnh biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 là sự kiện lịch sử đặc biệt, để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học quý báu: Một là, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tình hình, dự đoán chính xác âm mưu và hành động của các bên liên quan, nhất là động thái các nước lớn, trên cơ sở đó có sự chuẩn bị toàn diện, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Hai là, giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị, quân sự với đấu ngoại giao để vừa phát huy sức mạnh tổng hợp trong nước, vừa nêu cao tính chính nghĩa của cách mạng nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế, không để các thế lực thù địch xuyên tạc hòng tìm cách cô lập. Ba là, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, trên cơ sở đó phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ (bộ đội chủ lực quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích) kết hợp với sức mạnh hậu phương cả nước tạo thành những “trường thành thép” sẵn sàng đánh trả có hiệu quả mọi cuộc tiến công từ bên ngoài ngay thời gian đầu. Bốn là, vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” với nghệ thuật quân sự hiện đại (phương thức tác chiến chính quy), đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của cha ông thuở trước kết hợp với chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh./. Nguồn tin: Tạp chí Cộng sản
KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THẦY THUỐC VIỆT NAM (27/02/1955 - 27/02/2026)
Thư Bác Hồ gửi cán bộ ngành Y tế nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/02/1955 trong bối cảnh nhiệm vụ được giao hiện nay Kỷ niệm 70 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam – ngày mà toàn dân tôn vinh những người đang tận tụy cống hiến cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Hội nghị Cán bộ Y tế được đăng trên Báo Nhân dân số 362, cách đây tròn 70 năm, ngày 27/02/1955: "Gửi Hội nghị Cán bộ Y tế ! Bác thân ái chúc các cô (nghe nói có nữ bác – sĩ ở Nam về?) các chú vui vẻ mạnh khỏe, hăng hái trao đổi kinh nghiệm, bàn định kế hoạch cho thiết thực, và làm việc cho tiến bộ. Bác góp vài ý kiến sau đây để giúp các cô các chú thảo luận: – Trước hết là phải thật thà đoàn kết. Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân. – Thương yêu người bệnh. Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng. – Xây dựng một nền y học của ta. Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với sự nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng. Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”. Mong các cô các chú cố gắng thi đua, làm tròn nhiệm vụ. Chào thân ái và thành công." Qua nội dung bức thư với bối cảnh nhiệm vụ hiện nay đã gợi cho chúng ta đôi điều suy ngẫm về sự phát triển bền vững thông qua 03 điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thật thà đoàn kết", "Thương yêu người bệnh", "Xây dựng nền y học nước nhà". Lời dạy ấy không chỉ ý nghĩa với ngành Y tế mà mà còn giúp ta hiểu được nguyên lý vận hành hay đình trệ trong bối cảnh tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. I. BỘ MÁY NHÀ NƯỚC – VẬN HÀNH HAY ĐÌNH TRỆ Cơ thể con người khỏe mạnh là cơ thể có các bộ phận hoạt động hài hòa, không dư thừa hay kém hiệu quả. Ngược lại, cơ thể cồng kềnh, thiếu phối hợp sẽ gây trì trệ, mệt mỏi và dễ bệnh. Bộ máy hành chính cũng vậy, nếu phức tạp, quan liêu, chồng chéo chức năng thì cần được điều chỉnh ngay. Bộ máy hành chính tốt là bộ máy hiệu quả nhất, không nhất thiết đông người. Cải cách hành chính, đổi mới tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả chính là chỉnh đốn cơ thể hành chính công, giúp vận hành linh hoạt, phục vụ nhân dân tốt hơn. Chúng ta cần kết nối với các phác đồ y tế để hiểu rõ bản chất của việc cải cách nền công vụ. II. BỘ MÁY NHÀ NƯỚC – MỘT CƠ THỂ CON NGƯỜI Bộ máy hành chính có thể được xem như một cơ thể sống: - Trái tim – Chính là Sở Nội vụ, nơi bơm máu (nhân lực, chính sách) đi khắp cơ quan, giúp cả hệ thống vận hành nhịp nhàng. - Hệ thần kinh – Chính là bộ phận lãnh đạo, nơi truyền đi các mệnh lệnh, quyết sách quan trọng. - Lá phổi – Chính là cải cách hành chính và tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, giúp bộ máy có thêm luồng khí mới, loại bỏ sự trì trệ, quan liêu. - Gan và thận – Chính là công tác kiểm tra, giám sát, giúp lọc bỏ những gì không cần thiết, tránh tham nhũng, lãng phí. - Cơ bắp, xương khớp – Chính là đội ngũ công chức tận tụy, những người trực tiếp làm việc với nhân dân, cần được rèn luyện và nâng cao năng lực để vận hành hệ thống. Điều gì sẽ xảy ra nếu cơ thể này bị tổ chức sai cách? - Nếu trái tim bơm máu sai chỗ (bố trí nhân sự không phù hợp), hệ thống sẽ rối loạn. - Nếu hệ thần kinh truyền tín hiệu chậm (quá nhiều cấp trung gian, quan liêu), cơ thể sẽ phản ứng chậm chạp, mất hiệu quả. - Nếu lá phổi không đủ sạch (cải cách hành chính và tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy yếu kém), bộ máy sẽ trì trệ, không thể thích nghi với thực tế. Do đó, phác đồ tinh gọn bộ máy hành chính chính là sắp xếp lại từng bộ phận của cơ thể, đảm bảo rằng không có phần nào dư thừa, không có phần nào bị bỏ quên. Chỉ khi tất cả vận hành đồng bộ, bộ máy nhà nước mới có thể phục vụ nhân dân tốt nhất. III. CẢI CÁCH NỀN CÔNG VỤ VÀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY – HÀNH TRÌNH “GIẢM CÂN” ĐỂ KHỎE MẠNH HƠN Nếu một cơ thể quá nặng nề với nhiều mỡ thừa, chúng ta sẽ dễ bị mệt mỏi, mất linh hoạt, chậm chạp. Bộ máy nhà nước cũng vậy. Một bộ máy hành chính cồng kềnh, dư thừa nhân sự, chồng chéo chức năng sẽ khiến chi phí vận hành cao, hiệu suất thấp và mất lòng tin từ người dân. Nhưng giảm cân không có nghĩa là cắt bỏ tùy tiện. Một chế độ giảm cân khoa học, hiệu quả đúng nghĩa cần phải: - Cắt giảm phần mỡ thừa: là việc Loại bỏ những quy trình hành chính rườm rà, chồng chéo. - Giữ gìn cơ bắp, xương khớp: là việc Giữ chân những cán bộ, công chức có năng lực và tinh thần phục vụ. - Tăng cường rèn luyện: là việc Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng và thái độ phục vụ của cán bộ công chức. - Bổ sung dinh dưỡng đúng cách: là việc Ứng dụng công nghệ số vào quản lý hành chính để nâng cao hiệu quả làm việc và các chính sách đãi ngộ chất lượng cao. Phác đồ cải cách nền công vụ và tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy là một hành trình "giảm cân" có khoa học, đầy kiên trì và nghị lực. Chúng ta cần tinh giản biên chế hợp lý, giữ chân nhân sự chất lượng cao, sử dụng công nghệ hiện đại và duy trì tinh thần phục vụ nhân dân để bộ máy của Thành phố trở nên mạnh mẽ với phong độ đỉnh cao nhất. Nhìn lại từ tầm nhìn đến hành động, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt hiện nay, cải cách không chỉ là khẩu hiệu mà là hành trình dài hơi cần sự quyết tâm. Nếu bộ máy nhà nước là một cơ thể, thì mỗi cán bộ, công chức, viên chức chính là tế bào. Chỉ khi từng tế bào khỏe mạnh, cơ thể mới vận hành trơn tru. Mỗi cá nhân cần đề cao trách nhiệm, thường xuyên tự vấn về hiệu quả công việc, giá trị đóng góp và sẵn sàng thay đổi Bộ phận của tôi có đang hoạt động hiệu quả không? Tôi có đang mang lại giá trị thực sự cho bản thân, người dân và xã hội không? Tôi có sẵn sàng thay đổi để cùng xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn không?). TP.HCM sẽ là mô hình kiểu mẫu về chính quyền đô thị nếu chúng ta dám đổi mới vì một nền công vụ hiệu quả. Chắc chắn trong thời gian tới, Sở Nội vụ chúng ta đã sẵn sàng để chung tay cùng TP.HCM và cả nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - tất cả bắt đầu từ chính chúng ta. Nguồn tin: Sở nội vụ thành phố Hồ Chí Minh
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Học tập và làm theo Bác - nền tảng xây dựng Đảng đạo đức, văn minh Qua nhiều năm kiên trì triển khai, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã vượt ra khỏi khuôn khổ một phong trào vận động, từng bước trở thành nền nếp trong đời sống chính trị-xã hội. Những chuyển biến thực chất ấy góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời tạo động lực tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân. Trước yêu cầu xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” được đặt ra trong dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, việc học và làm theo Bác đòi hỏi chiều sâu, quyết tâm chính trị cao hơn, gắn kết chặt chẽ hơn với trách nhiệm cầm quyền của Đảng. Nền nếp, động lực thúc đẩy phát triển Nhìn lại quá trình triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có thể thấy rõ một bước chuyển quan trọng cả về nhận thức và hành động. Từ chỗ chủ yếu nhấn mạnh việc học tập, quán triệt, tuyên truyền, đến nay, yêu cầu “làm theo” được đặt ở vị trí trung tâm, trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng sinh hoạt đảng, hiệu quả thực thi công vụ và uy tín của cán bộ, đảng viên. Ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, việc học và làm theo Bác được gắn kết chặt chẽ với thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra ở địa phương, cơ sở. Chính sự gắn kết ấy đã giúp việc học và làm theo Bác dần hạn chế được bệnh hình thức, khẩu hiệu, từng bước tạo nên những chuyển biến có thể nhận diện bằng kết quả cụ thể. Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là sự tiếp thu chọn lọc các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo nên một hệ thống chuẩn mực vừa gần gũi, vừa mang tầm vóc thời đại.(Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đình Phong) Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đình Phong, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là sự tiếp thu chọn lọc các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo nên một hệ thống chuẩn mực vừa gần gũi, vừa mang tầm vóc thời đại. Đạo đức không chỉ là vấn đề tu dưỡng cá nhân mà còn là nền tảng cốt lõi để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Bởi vậy, việc rèn luyện đạo đức được thông qua những việc làm cụ thể, thiết thực, trước hết là sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Nhiều tổ chức đảng, đảng viên, nhất là những người đứng đầu đã chủ động nhận diện, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chấn chỉnh tác phong công tác, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong thực thi nhiệm vụ. Những hành động, việc làm cụ thể như: Tự soi, tự sửa; sát dân, gần dân trong lao động sản xuất, giúp nhân dân trở thành yêu cầu tự thân. Cũng chính từ thực tiễn ấy, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được bồi đắp, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân tiếp tục được củng cố. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, việc học và làm theo Bác trở thành động lực tinh thần quan trọng, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng xung kích trong phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, giúp dân ổn định đời sống là minh chứng sinh động cho giá trị thực tiễn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống hôm nay. Qua 10 năm thực hiện, toàn quân đã có hơn 1.030 mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả về học tập và làm theo Bác, nổi bật là các mô hình “Làm theo chức trách, nêu gương trong hành động”, “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “Tự soi, tự sửa”, “Đảng viên dìu dắt quần chúng”, “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa”, “Mỗi tuần một đáp án, mỗi tháng một công trình”, “Ngôi nhà 100 đồng”, “Hũ gạo vì người nghèo”, “Nâng bước em đến trường”, “Trái tim cho em”, “Con nuôi đồn biên phòng”... Không chỉ có ý nghĩa trong xây dựng Đảng, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh còn tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội. Các mô hình học và làm theo Bác tiếp tục được nhân rộng; nhiều tấm gương tiêu biểu được phát hiện, biểu dương, góp phần lan tỏa giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, củng cố niềm tin và khát vọng phát triển đất nước. Nhiều địa phương đã gắn việc học Bác với các chủ trương cụ thể như: Cải cách hành chính, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Quảng Ninh là tỉnh trong nhóm dẫn đầu việc học và làm theo Bác với những mô hình sáng tạo và sức lan tỏa mạnh mẽ, nổi bật là việc gắn học Bác với trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và tinh thần “thần tốc” trong phát triển kinh tế-xã hội. Trong gần 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng được hơn 1.660 mô hình hiệu quả. Các mô hình về cải cách hành chính, cải thiện chỉ số hài lòng của người dân, hỗ trợ chuyển đổi số cho nhân dân cùng các mô hình “dân vận khéo” tại các phường Hạ Long, Hiệp Hòa... vừa góp phần nâng cao đời sống nhân dân vừa củng cố niềm tin của nhân dân. Cùng với Quảng Ninh, các địa phương khác trên cả nước cũng sáng tạo nhiều mô hình hay, cách làm mới, phù hợp thực tiễn trong học Bác như: mô hình “xã hội chủ nghĩa” của tỉnh Lào Cai; mô hình “5+1”, “kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh dưới cờ” của tỉnh Tây Ninh; mô hình “quét mã QR tuyên truyền biên giới” của tỉnh Lạng Sơn... góp phần lan tỏa sâu rộng giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chuẩn mực mới trong học và làm theo bác Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành nền nếp vững chắc trong đời sống chính trị-xã hội, đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng Đảng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, nền nếp ấy chỉ thật sự có ý nghĩa, có chiều sâu khi không ngừng được nâng lên bằng những chuẩn mực cao hơn, yêu cầu khắt khe hơn và trách nhiệm chính trị rõ ràng hơn. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, khi đất nước bước sang giai đoạn mới, hội nhập sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững. Trong tổng thể yêu cầu xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giữ vai trò trụ cột tinh thần, bảo đảm cho quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng bền vững. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Quốc Tuấn, Viện trưởng Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, là sự kế thừa, chắt lọc những yêu cầu, tiêu chuẩn về đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu ra; không chỉ đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết, thường xuyên, lâu dài đặt ra đối với cán bộ, đảng viên. Cần làm sao để quy định thật sự đi vào thực tiễn, trở thành nếp sống tự giác tu dưỡng, rèn luyện và “tự soi, tự sửa”, đồng thời là tiêu chí để cấp ủy, tổ chức đảng làm căn cứ đánh giá, xếp loại và sàng lọc cán bộ. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Lịch sử Đảng khẳng định đạo đức là nền tảng cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng không phải tự nhiên mà có, mà cần được rèn luyện bền bỉ, thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng”. Đạo đức là nền tảng cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng không phải tự nhiên mà có, mà cần được rèn luyện bền bỉ, thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng”. (Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Lịch sử Đảng) Trong bối cảnh mới, việc học và làm theo Bác cần được nâng lên thành tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, thành thước đo uy tín của cán bộ, đảng viên, chứ không chỉ dừng ở phong trào hay cuộc vận động. Điều đó đòi hỏi mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học Bác trong suy nghĩ, trong hành động, biến các chuẩn mực đạo đức cách mạng thành việc làm hằng ngày, bằng hành động cụ thể, kết quả thực chất. Bí thư Chi bộ thôn Nậm Lúc Lù Seo Nương (xã Cốc Lầu, tỉnh Lào Cai) nhiều năm qua là điển hình tiên tiến trong học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng chí chia sẻ: Học Bác trước hết là tự rèn mình. Trước mỗi công việc, vấn đề, tôi đều tự hỏi và quyết tâm thực hiện đúng với phẩm chất, đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính” mà Bác căn dặn. Trong chi bộ, nhất là vào những thời điểm khó khăn, đồng chí Lù Seo Nương luôn động viên các đồng chí đảng viên nghĩ về Bác, về những hy sinh lớn lao Người đã dành trọn cho dân tộc. Với sự quyết tâm, đồng lòng, chi bộ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đưa cuộc sống nhân dân dần ổn định. Năm 2025, chi bộ thôn Nậm Lúc được vinh danh là tập thể điển hình, tiên tiến trong học tập và làm theo gương Bác Hồ. Những tấm gương tiêu biểu từ cơ sở như Bí thư Chi bộ thôn Nậm Lúc cho thấy, học và làm theo Bác không phải là những việc lớn lao mà bắt đầu từ chính những việc giản dị, là sự tự soi, tự rèn, từ ý thức trách nhiệm với công việc được giao và với nhân dân. Chính từ những con người bình dị ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày, lan tỏa bền bỉ, trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc. Đảng ta xác định học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là yêu cầu hàng đầu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc học và làm theo Bác trong giai đoạn mới đòi hỏi quyết tâm chính trị mạnh mẽ hơn, cơ chế thực hiện đồng bộ hơn, để đạo đức cách mạng thật sự trở thành thước đo uy tín của cán bộ, là tiêu chí đánh giá tổ chức đảng. Đó chính là cách thiết thực nhất để hiện thực hóa yêu cầu xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”, để Đảng ta vững mạnh về tổ chức, chặt chẽ về kỷ luật, mẫu mực về đạo đức, xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nguồn Báo nhân dân
CHÍNH SÁCH MỚI
Chính sách mới hiệu lực tháng 02/2026 về lao động - tiền lương
Một trong số những chính sách mới lĩnh vực lao động - tiền lương có hiệu lực trong tháng 02/2026 là chính thức áp dụng Danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH từ 15/02. Bài viết dưới đây của LuatVietnam sẽ thông tin cụ thể về nội dung này.
1. Danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH từ 15/02/2026
Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYTquy định Danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH từ 15/02/2026 gồm:
Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm phosphor hữu cơ và carbamat)
15
Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp
16
Bệnh nhiễm độc carbon monoxide nghề nghiệp
17
Bệnh nhiễm độc cadmi nghề nghiệp
III. Bệnh do yếu tố vật lý
18
Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn
19
Bệnh giảm áp nghề nghiệp
20
Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân
21
Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ
22
Bệnh phóng xạ nghề nghiệp
23
Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp
IV. Bệnh da nghề nghiệp
24
Bệnh nốt dầu nghề nghiệp
25
Bệnh sạm da nghề nghiệp
26
Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm
27
Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài
28
Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su
V. Bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp
29
Bệnh Leptospira nghề nghiệp
30
Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp
31
Bệnh lao nghề nghiệp
32
Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp
33
Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp
VI. Bệnh ung thư, bệnh đặc biệt
34
Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp
35
Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (COVID-19) nghề nghiệp
Lưu ý: Danh mục trên ban hành theo Thông tư của Bộ Y tế, là căn cứ để giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo Luật BHXH 2024. Mỗi bệnh tương ứng 01 Phụ lục quy định điều kiện phơi nhiễm, tiêu chuẩn chẩn đoán và giám định mức suy giảm khả năng lao động.
Có thể thấy, so với quy định trước đây tại Điều 3 Thông tư 15/2016/TT-BYT được bổ sung khoản 1 Điều 1 Thông tư 02/2023/TT-BYT, Thông tư 60/2025/TT-BYT không mở rộng hay thu hẹp quyền lợi BHXH đối với bệnh nghề nghiệp mà chỉ sắp xếp lại theo 06 nhóm bệnh khoa học, dễ tra cứu.
Bên cạnh đó chuẩn hóa tên bệnh, thuật ngữ y khoa thuận lợi hơn cho giám định BHXH, lập hồ sơ, chi trả chế độ, cụ thể như:
- “Hen phế quản nghề nghiệp” sửa thành Hen nghề nghiệp;
- “Nhiễm độc trinitrotoluen” sửa thành Nhiễm độc 2,4,6-Trinitrotoluen (TNT);
- “Nhiễm độc asen” sửa thành Nhiễm độc arsenic;
- “Viêm da và loét vách ngăn mũi do crôm” sửa thành Viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm…
Người lao động, doanh nghiệp, cơ sở y tế cần lưu ý từ 15/02/2026, khi lập hồ sơ hưởng BHXH do bệnh nghề nghiệp, phải đối chiếu danh mục tại Thông tư 60/2025/TT-BYT.
Chính sách mới hiệu lực tháng 02/2026 về lao động tiền lương (Ảnh minh họa)
Chính sách mới hiệu lực tháng 02/2026 về lao động tiền lương (Ảnh minh họa)
2. Danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong ngành Tư pháp từ 08/02/2026
Được nêu tại Thông tư 28/2025/TT-BTP của Bộ Tư pháp quy định danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp tại chính quyền địa phương
Theo đó, Danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo Thông tư 28/2025/TT-BTP
Nhóm áp dụng
Lĩnh vực
Vị trí/công việc đặc thù
Thời hạn định kỳ chuyển đổi
A. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp
Tổ chức cán bộ, đào tạo, thi đua - khen thưởng (chuyên trách)
Thẩm định nhân sự; tuyển dụng; quy hoạch, bổ nhiệm; đào tạo, bồi dưỡng; thi đua, khen thưởng; kỷ luật