Những ngày đáng nhớ trong tháng 07- 02/7/1976: Kỷ niệm Ngày nước ta đổi quốc hiệu từ Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.- 11/7: Kỷ niệm Ngày Dân số thế giới.- 15/7/1950: Kỷ niệm Ngày truyền thống thanh niên xung phong.- 17/7/1966: Ngày Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.- 20/7/1954: Ngày ký hiệp định Giơnevơ.- 27/7/1947: Kỷ niệm Ngày thương binh, liệt sĩ Việt Nam.- 28/7/1929: Kỷ niệm Ngày thành lập công đoàn Việt Nam.
TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN Tháng 7/2026
Ngày 2/7/2026 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc: tròn 50 năm đất nước chính thức mang quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới. Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định khóa Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là Quốc hội khóa VI nước CHXHCN Việt Nam; quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Ðịnh là Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của nước CHXHCN Việt Nam mở đầu cho bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước. Ảnh: TTXVN Quyết định lịch sử này của Quốc hội khóa VI (1976) không chỉ hoàn tất quá trình thống nhất về mặt nhà nước mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ về con đường và mục tiêu phát triển mà dân tộc ta kiên định hướng tới. Nhìn lại chặng đường nửa thế kỷ qua, có thể khẳng định việc lựa chọn tên nước "Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" là một tất yếu khách quan, phản ánh sâu sắc bản chất chế độ và mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta. Mỗi quốc gia, dân tộc đều có quyền chính đáng trong việc quyết định lựa chọn con đường và thể chế chính trị cho mình, và sự lựa chọn này chính là ý chí của nhân dân Việt Nam được thể hiện qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản. Xét về tính chính trị, quốc hiệu thiêng liêng ấy khẳng định rõ hình thức chính thể của nước ta là cộng hòa, có chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, là một nhà nước độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Bản chất của chế độ chính trị ấy được định hình rõ nét và quy định chặt chẽ trong Điều 2 Hiến pháp 2013: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; cũng như Điều 4 về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Việc giữ vững quốc hiệu này qua các bản Hiến pháp năm 1980, 1992 và 2013 đã trở thành điểm tựa vững chắc để bảo đảm sự ổn định chính trị. Hơn thế nữa, thực tiễn đã chứng minh việc thay đổi tên nước không chỉ làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính, gây tốn kém, phức tạp, mà còn tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc rằng nước ta đang xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Trong "Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở ý kiến nhân dân" trình bày trước Quốc hội khóa XIII tại Kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2013), đại diện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp nhận thấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thể hiện rõ chính thể của nước ta là cộng hòa, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ. Tuy nhiên, việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm tính ổn định, tránh việc phải thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên các văn bản, giấy tờ. Hơn nữa, trải qua 37 năm, tên gọi này đã trở nên quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế". Minh chứng rõ nhất cho tính đúng đắn của thể chế chính trị ấy chính là những thành tựu vĩ đại mà đất nước đã gặt hái được dưới quốc hiệu thiêng liêng trong suốt 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới (1986 - 2026). Từ một quốc gia nghèo nàn, bị bao vây cấm vận với quy mô GDP chỉ vỏn vẹn khoảng 4,5 tỷ USD vào năm 1986, Việt Nam đã có bước bứt phá ngoạn mục, vươn lên thành nền kinh tế đạt 514 tỷ USD vào năm 2025 và ở vị trí thứ 32 toàn cầu. Đáng tự hào hơn, tỷ lệ hộ nghèo từ mức trên 80% đã giảm xuống dưới 3%, đưa đất nước trở thành một hình mẫu tiêu biểu của thế giới về công cuộc xóa đói giảm nghèo. Đi cùng với sự bứt phá về kinh tế, uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế cũng được nâng tầm vượt bậc khi Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao ở mọi cấp độ với hàng loạt quốc gia, tham gia sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) và nhiều lần tự hào đảm nhận các vai trò quan trọng tại Liên hợp quốc. Đứng trên nền tảng vững chắc của 40 năm Đổi mới, Đảng ta tiếp tục vạch ra tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tầm nhìn vĩ mô này thực chất là sự kế thừa, phát triển xuyên suốt từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Văn kiện này đã lần đầu tiên định hình rõ ràng mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thông qua một hệ tiêu chí cụ thể với 7 đặc trưng cơ bản. Trải qua thực tiễn, nhận thức lý luận của Đảng tiếp tục được hoàn thiện, và đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hệ thống này đã được phát triển thành 8 đặc trưng cốt lõi. Những đặc trưng ấy khắc họa rõ nét hình ảnh một xã hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới. Việc cụ thể hóa từ 7 đặc trưng năm 1991 đến 8 đặc trưng năm 2011 đã tạo nên bước chuyển lớn từ nhận thức khái quát sang một hệ tiêu chí định hướng chính sách, kiên định lấy chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của con người làm trung tâm. Do đó, chủ nghĩa xã hội không thể chỉ nằm trên định hướng lý luận mà phải được đưa vào thực tiễn đời sống hằng ngày của nhân dân.
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới (1976). Ảnh: TTXVN
Quán triệt tinh thần "dân là gốc" ấy, trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, việc xây dựng mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" được xem là một giải pháp mang tính đột phá nhằm chuyển hóa các nguyên lý vĩ mô thành thực tiễn sống động ở cấp cơ sở gần dân nhất. Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định, đến năm 2045, Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời gợi ý Thủ đô thí điểm xây dựng mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" với quy mô dân số từ 500.000 đến một triệu người. Theo định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, một đơn vị thí điểm phải bảo đảm hạ tầng đồng bộ, hệ thống giáo dục và y tế phát triển, không gian công cộng, đô thị thông minh, môi trường sống an toàn, dịch vụ công thuận tiện và chính quyền vận hành hiệu quả. Bước chuyển từ hoạch định quốc gia xuống sát cấp cơ sở này chính là cách biến các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội thành những tiêu chí cụ thể, có thể đo đếm và kiểm chứng được trong điều kiện sống hằng ngày của người dân. Theo Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), trong kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên của hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thì yêu cầu cụ thể hóa các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn phát triển ở cơ sở ngày càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước, như chỉ dẫn của V.I.Lenin: "Chúng ta đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày, và chúng ta phải tìm hiểu cuộc sống hàng ngày". Lộ trình hiện thực hóa mô hình cơ sở mang tính tiên phong này được hoạch định một cách bài bản, thận trọng qua bốn giai đoạn liên tiếp: từ nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí và tiến hành thí điểm (từ nay đến năm 2030); hoàn thiện khung pháp lý và nhân rộng các mô hình mẫu (2030 - 2035); tích hợp sâu rộng vào chiến lược quốc gia (2035 - 2040); và cuối cùng, tiến tới mốc lịch sử 2040 - 2045, không gian xã hội cộng đồng này sẽ được định hình hoàn thiện như một cấu phần hữu cơ của chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện đại, phản ánh rõ nét các giá trị nhân văn, dân chủ thực chất và phát triển bền vững vì con người. Như vậy, giữ vững quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là giữ vững điểm tựa chính trị, tạo tiền đề duy trì sự ổn định, môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Với niềm tự hào trải suốt nửa thế kỷ mang quốc hiệu thiêng liêng, cộng hưởng cùng những thành tựu rực rỡ đúc kết từ 40 năm Đổi mới và quyết tâm kiến tạo chủ nghĩa xã hội từ những hạt nhân cơ sở nhỏ nhất theo định hướng của Đảng, dân tộc Việt Nam đang hội tụ đủ mọi điều kiện để tự tin hướng tới tương lai. Ở đó, khát vọng về một quốc gia phát triển phồn vinh trong kỷ nguyên mới chắc chắn sẽ được hiện thực hóa bằng chính sự đoàn kết, kiên định và sức sáng tạo không ngừng của toàn Đảng, toàn dân ta trên con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn.
Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
11/7: KỶ NIỆM NGÀY DÂN SỐ THẾ GIỚI
Ý nghĩa Ngày Dân số Thế giới 11/7
Ngày dân số Thế giới 11/7 năm 2025 với chủ đề: 'Quyền tự quyết về sinh sản trong một Thế giới đang thay đổi'. Đây là thông điệp chính thức được Văn phòng Quỹ Dân số Liên Hợp quốc tại Việt Nam công bố và được Bộ Y tế đưa vào Kế hoạch truyền thông dân số năm 2025 nhằm đẩy mạnh nhận thức cộng đồng về vai trò, quyền lợi và trách nhiệm trong vấn đề sinh sản.
Ngày Dân số Thế giới là một sự kiện thường niên diễn ra vào ngày 11/7 hằng năm, nhằm nâng cao nhận thức của toàn thế giới về các vấn đề dân số toàn cầu. Đây cũng là dịp để nhân loại tự hào về những thành tựu trong lĩnh vực dân số, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng giới, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng dân số và tuổi thọ của người dân, góp phần phát triển đất nước. Ngày này được khởi xướng vào năm 1989 bởi Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), sau sự kiện dân số thế giới đạt mốc 5 tỷ người vào ngày 11/7/1987. Đây là dịp để các quốc gia cùng đánh giá, thúc đẩy những chính sách dân số hiệu quả, đảm bảo quyền sinh sản và chất lượng cuộc sống cho mọi người dân, đặc biệt là phụ nữ và thanh thiếu niên.
Truyền thông Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại xóm Cà Lò, xã Khánh Xuân,
Vào năm 1994, tại Cairo, Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, 179 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã thông qua chương trình hành động với tầm nhìn sâu rộng trong lĩnh vực dân số và phát triển (ICPD). Các quốc gia đều đồng thuận với quan điểm cho rằng chúng ta cần đặt con người vào vị trí trung tâm và khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa dân số và phát triển. Việc lồng ghép đầy đủ các vấn đề dân số vào các chiến lược phát triển, vào công tác lập kế hoạch, ra các quyết định và phân bổ nguồn lực ở các cấp, vùng nhằm giải quyết hợp lý các chỉ tiêu dân số, bao gồm tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu tuổi, mức sinh, mức chết, di cư... đều ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của phát triển con người, kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ năm 2007, nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng. Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về DS - KHHGĐ của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá. Chất lượng dân số Việt Nam ngày càng được cải thiện, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng lên. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng 33,7 năm từ 40 tuổi (1960) lên 74,7 (2023). So với năm 2019, tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của Việt Nam đã tăng lên 1,1 năm sau giai đoạn 5 năm. Tầm vóc thể lực của người Việt Nam có bước cải thiện. Từ năm 1993 đến nay, chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam tăng thêm 6,6 cm, đạt 168,1 cm ở nam (2020) và 156,2 cm ở nữ. Tuy nhiên, mức sinh trên toàn quốc có xu hướng giảm thấp dưới mức sinh thay thế và dự báo sẽ tiếp tục xuống thấp trong các năm tiếp theo. Tổng tỷ suất sinh năm 2024 là 1,91 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế. Kể từ năm 2009 đến hết năm 2022, trong suốt gần 15 năm, mức sinh của Việt Nam giữ trạng thái tương đối ổn định xung quanh mức sinh thay thế. Tuy nhiên, trong 2 năm gần đây, 2023 - 2024, mức sinh của Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu giảm nhanh hơn (trong khi đó, mục tiêu Nghị quyết 21- NQ/TW đề ra là “Duy trì vững chắc mức sinh thay thế”). Theo dự báo, đến năm 2039, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng, năm 2042 quy mô dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh và sau năm 2054 dân số sẽ bắt đầu tăng trưởng âm. Hệ lụy của mức sinh thấp kéo dài sẽ dẫn đến thiếu hụt lực lượng lao động, suy giảm quy mô dân số, đẩy nhanh già hóa dân số, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tại phiên họp chiều 3/6 và có hiệu lực từ ngày 3/6/2025 nêu rõ mỗi cặp vợ chồng, cá nhân được quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh con phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chống trên cơ sở bình đẳng. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch mức sinh giữa các vùng, đối tượng, tránh để mức sinh giảm quá thấp, không đạt mức sinh thay thế - điều có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng trong tương lai. Thực hiện chính sách DS - KHHGĐ, tỉnh ban hành nhiều văn bản quan trọng để chỉ đạo triển khai thực hiện công tác dân số thống nhất trên địa bàn tỉnh theo định hướng chung của cả nước, trong đó tác động đến tất cả các lĩnh vực về quy mô dân số, chất lượng dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số và quản lý dân số. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ đạo công tác dân số các cấp; sự phối hợp của các sở, ban, ngành và các tổ chức chính trị, xã hội đối với công tác dân số. Hằng năm, Chi cục Dân số tham mưu Sở Y tế, Ban chỉ đạo công tác dân số tỉnh ban hành Kế hoạch hoạt động của BCĐ, Kế hoạch tổ chức thực hiện công tác dân số trên địa bàn toàn tỉnh. Đồng thời, tăng cường chỉ đạo, giám sát hỗ trợ cấp huyện, xã triển khai các hoạt động theo kế hoạch. Để công tác DS - KHHGĐ phát triển bền vững, ngành Y tế tiếp tục thực hiện các giải pháp theo Kế hoạch số 190-KH/TU ngày 15/01/2018 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền và sự tham gia của toàn xã hội đối với công tác dân số; thực hiện chính sách về dân số. Đẩy mạnh truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp truyền thông giáo dục phù hợp với các nhóm đối tượng. Vận động mọi thanh niên, đặc biệt là những người có nguy cơ cao trước khi kết hôn thực hiện việc tư vấn và khám sức khỏe trước hôn nhân; phụ nữ mang thai thực hiện việc tầm soát, chẩn đoán, điều trị trước sinh; để mọi trẻ sinh ra đều được tầm soát, chẩn đoán, điều trị sơ sinh. Nâng cao chất lượng dân số; đưa tỷ số giới tính khi sinh dần về mức cân bằng tự nhiên; thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý, góp phần phát triển nhanh và bền vững. Hưởng ứng Ngày Dân số thế giới 11/7/2025, Chi cục Dân số đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân số trong tình hình mới; về lợi ích của việc sinh đủ 2 con; chuyển đổi hành vi về giới và bình đẳng giới, không lựa chọn giới tính thai nhi; truyền thông nâng cao vai trò,vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng và xã hội; lợi ích và tầm quan trọng của việc tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn cho nam, nữ thanh niên; thực hiện tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh; phổ biến các quy định của pháp luật về cấm tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội trong việc thực hiện giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; ưu tiên truyền thông các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, bao gồm người dân tộc thiểu số, người di cư, người khuyết tật và những người bị ảnh hưởng bởi tác động của biến đổi khí hậu. Tổ chức các hoạt động truyền thông hưởng ứng phù hợp với thực tế của địa phương như: hội nghị, hội thảo, mít tinh, diễn đàn, tọa đàm, cổ động, treo băng zôn tuyên truyền tại các trục đường phố; UBND các xã, phường và trạm y tế với các thông điệp, khẩu hiệu có nội dung tuyên truyền hưởng ứng Ngày Dân số thế giới 11/7; lồng ghép, kiểm tra giám sát các hoạt động hưởng ứng Ngày Dân số thế giới và các hoạt động truyền thông tại cơ sở…
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
KỶ NIỆM 76 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG (15/7/1950 – 15/7/2026)
Kỷ niệm 76 năm Ngày truyền thống lực lượng thanh niên xung phong (15/7/1950 - 15/7/2026)
Ngày 15 tháng 7 năm 2026 đánh dấu tròn 76 năm Ngày truyền thống lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam (15/7/1950 – 15/7/2026). Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng ôn lại những trang sử hào hùng của một lực lượng cách mạng đặc biệt – những người thanh niên đã hiến dâng tuổi xuân, trí tuệ và cả tính mạng vì độc lập, tự do của dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần "Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên"; là trường học lớn rèn luyện hàng triệu thanh niên Việt Nam trưởng thành, cống hiến cho đất nước. Truyền thống vẻ vang ấy tiếp tục được thế hệ trẻ hôm nay kế thừa, phát huy bằng những hành động thiết thực trong lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, bảo vệ chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, rồi đến kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Bác Hồ, tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong. Họ là những người trẻ tuổi, với bầu nhiệt huyết sục sôi, không quản ngại gian khổ, hy sinh, xung phong đi đến những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất. Trong kháng chiến chống Pháp, Thanh niên xung phong đã mở đường, vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men, phá bom mìn, làm cầu phà, phục vụ chiến đấu. Hình ảnh những đoàn Thanh niên xung phong với chiếc xe đạp thồ, gùi gánh lương thực, thực phẩm nặng trên vai, vượt qua mưa bom bão đạn, núi rừng hiểm trở đã trở thành biểu tượng cho ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc anh hùng. Đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng vạn cô gái, chàng trai Thanh niên xung phong đã biến những tuyến đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh thành những huyết mạch không ngừng nghỉ dưới mưa bom bão đạn. Họ là những “cô gái mở đường”, “chàng trai giữ tuyến” với: Tinh thần dũng cảm, quên mình: Sẵn sàng lao vào điểm nóng, san lấp hố bom chỉ trong ít phút, tháo gỡ bom mìn, mở đường cho xe qua dù đối mặt với hiểm nguy cái chết cận kề. Tiêu biểu là huyền thoại về 10 cô gái Đồng Lộc hay sự hy sinh anh dũng của hàng ngàn Thanh niên xung phong trên các trọng điểm ác liệt. Trước những thách thức chưa từng có của chiến tranh, các Thanh niên xung phong đã không ngừng tìm tòi, nghĩ ra cách làm mới để đảm bảo thông đường, vận chuyển. Từ việc ngụy trang đường sá, làm cầu phà cấp tốc đến những sáng kiến nhỏ nhưng hiệu quả trong sinh hoạt, chiến đấu. Đó là ý chí kiên cường, vượt qua khó khăn dù trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ, bị sốt rét rừng hành hạ, bom đạn rình rập, họ vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, yêu đời, tin tưởng vào chiến thắng. Những câu hò, điệu múa, tiếng hát át tiếng bom đã trở thành biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ Việt Nam. Đó là tinh thần đoàn kết, tình đồng đội luôn sẻ chia, đùm bọc, sát cánh bên nhau, coi đồng đội như anh em ruột thịt, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Sau chiến tranh, lực lượng Thanh niên xung phong tiếp tục phát huy truyền thống, xung kích đi đầu trong công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại đất nước. Họ tham gia khai hoang phục hóa, xây dựng các công trình thủy lợi, đường sá, trường học, bệnh viện, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
..............
THEO DÒNG LỊCH SỬ
Những ngày đáng nhớ trong tháng 7: - 02/7/1976: Kỷ niệm Ngày nước ta đổi quốc hiệu từ Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - 11/7: Kỷ niệm Ngày Dân số thế giới. - 15/7/1950: Kỷ niệm Ngày truyền thống thanh niên xung phong. - 17/7/1966: Ngày Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. - 20/7/1954: Ngày ký hiệp định Giơnevơ. - 27/7/1947: Kỷ niệm Ngày thương binh, liệt sĩ Việt Nam. - 28/7/1929: Kỷ niệm Ngày thành lập công đoàn Việt Nam. 02/7/1976: KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY NƯỚC TA ĐỔI QUỐC HIỆU TỪ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 50 năm Quốc hiệu 'Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam' và khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới